IndexIndex  CalendarCalendar  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  


Chào mừng bạn đến với
»»--http://dolls.forumvi.net--««
Cộng Đồng DF - Chúc các bạn vui vẻ!

» Nếu đã có tài khoản, đăng nhập tại đây:«

» Chưa có tài khoản? Nhấn vào đây để đăng ký «
Share|
Tiêuđề

Howl's Moving Castle

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Tác giảThông điệp

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 3:41 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Howl's Moving Castle(1986)
(Lâu đài biết đi)
-Quyển sách đầu tiên trong series Howl's Castle

Tác giả: Diana Wynne Jones
Số chương: 21

Dịch: mhd
Write: crystal-hearts.forumvi.net


Sophie là chị cả của ba chị em gái. Theo như những câu chuyện cổ tích thì điều đó có nghĩa là Sophie sẽ là người thất bại nhất trong gia đình. Do đó cô chỉ an phận làm người bán nón. Tuy nhiên một ngày kia bà phù thủy vùng Hoang Phế biến cô trở thành bà già lụ khụ. Quyết định rằng vận mệnh mình không thể tệ hơn, Sophie rời nhà tìm cách giải lời nguyền. Trớ trêu thay, Sophie lại tình cờ đến nhà một pháp sư nổi tiếng độc ác chuyên ăn tim các cô gái. Câu chuyện tình cảm vui nhộn phù hợp với mọi lứa tuổi.



Năm 2004 hãng phim Studio Ghibli,
Nhật đã chuyển thể truyện sang
phim hoạt hình cùng tên.

Spoiler:
 
Spoiler:
 

Chương 1
Sophie trò chuyện với những cái nón

Tại vùng đất Ingary, nơi mà những đôi hia bảy dặm và áo choàng tàng hình có thật, thì việc làm đứa con đầu lòng trong gia đình ba anh chị em đúng là một điều hết sức rủi ro. Mọi người đều biết bạn sẽ là người bị thất bại trước nhất, và tệ hại nhất, nếu cả ba người quyết định đi thử vận may.

Sophie Hatter là chị cả trong ba chị em. Ngay cả làm con gái của người đốn củi cô cũng không được, vì nếu vậy thì cô còn có cơ hội thành công chút ít. Bố mẹ cô thuộc gia đình khá giả và làm chủ một tiệm nón trong thị trấn Market Chipping. Đúng vậy, mẹ cô qua đời khi Sophie chỉ mới hai tuổi và em Lettie vừa một tuổi. Bố cô tục huyền với người học việc trẻ tuổi nhất trong cửa tiệm, một cô gái tóc vàng xinh xắn tên là Fanny. Fanny ngay sau đó sinh một đứa bé gái thứ ba, tên là Martha. Việc này có thể biến Sophie và Lettie thành hai chị em ghẻ xấu xí, nhưng cả ba chị em đều lớn lên rất xinh đẹp, mặc dù Lettie là người mà mọi người đều cho là đẹp nhất. Fanny nuôi cả ba đứa con gái với cùng một sự yêu thương và không có thiên vị Martha chút nào cả.

Ông Hatter rất tự hào về ba đứa con gái của mình và cho chúng đi học ở ngôi trường tốt nhất trong thị trấn. Sophie chăm học nhất. Cô đọc nhiều sách, và nhanh chóng nhận ra cơ hội có một tương lai sáng sủa của mình rất là ít ỏi. Thật là một điều thất vọng của cô bé, nhưng cô vẫn vui vẻ, chăm sóc cho hai người em và hướng dẫn Martha cách tìm vận may khi thời điểm đến. Vì Fanny lúc nào cũng bận rộn với cửa tiệm, Sophie là người chăm sóc hai cô em gái. Sự la hét và kéo tóc giữa hai đứa nhỏ dường như là bất tận. Lettie không hề có ý định trở thành, kế Sophie, người ít thành công nhất.

“Thật không công bằng!” Lettie hét lên. “Tại sao Martha phải là đứa may mắn nhất chỉ bởi vì nó sinh sau cuối? Tao phải là người cưới hoàng tử mới đúng!”

Martha sau đó liền đốp chát lại rằng nó sẽ tự giàu có mà không cần cưới ai cả.

Rồi Sophie phải lôi hai đứa ra và vá lại áo cho chúng. Cô bé rất khéo với kim chỉ. Cô từng may cho Lettie một bộ áo màu hồng sậm vào ngày May Day trước khi câu chuyện bắt đầu, mà Fanny bảo rằng không thua kém bộ áo nào từ cửa tiệm sang trọng nhất ở Kingsbury cả.

Vào khoảng thời gian này mọi người bắt đầu nói đến mụ Phù Thủy của vùng đất Hoang phế. Ai cũng nói mụ phù thủy đã đe dọa tính mạng con gái của đức vua và ngài đã ra lệnh cho pháp sư đương triều, Pháp sư Suliman đến vùng đất hoang và xử trị mụ ta. Thế rồi Pháp sư Suliman không những bị thua cho mụ phù thủy, ông còn bị mụ giết chết nữa.

Và rồi, vài tháng sau, một tòa lâu đài cao lớn, đen đúa sừng sững hiện lên trên đồi cạnh thị trấn Market Chipping, thổi những luồng khói đen đúa từ bốn cái tháp cao và nhỏ, mọi người đều chắc mẩm rằng mụ phù thủy lại ra khỏi vùng đất hoang và trở về phá hoại đất nước như năm mươi năm trước. Ai cũng sợ hãi. Không ai ra đường một mình, nhất là vào ban đêm. Đáng sợ hơn nữa là tòa lâu đài không đứng yên một chỗ. Có khi nó chỉ là một cái bóng đen trong cánh đồng hoang phía tây bắc, có khi nó nằm trên những mỏm đá hướng đông, và có khi nó nằm dưới chân đồi kế bên cây thạch nam chỉ phía sau nông trại cuối cùng ở hướng bắc. Có khi người ta còn có thể thấy nó di chuyển, với những luồng khói xám đầy bụi tỏa ra từ bốn tòa tháp. Trong khoảng thời gian dài, mọi người đều chắc rằng tòa lâu đài sẽ đi xuống thung lũng, ngay cả vị thị trưởng cũng định gởi thơ xin nhà vua trợ giúp.
Nhưng tòa lâu đài cứ lang thang trên đồi, và rồi họ khám phá ra rằng tòa lâu đài không phải của mụ phù thủy mà là của pháp sư Howl. Pháp sư Howl cũng đã đủ xấu rồi. Mặc dù lão không muốn rời khỏi các ngọn đồi, lão được biết đến với sở thích sưu tầm các cô gái trẻ và hút hồn các cô. Có người còn nói ông ăn tim các cô nữa. Lão là một pháp sư cực kỳ vô tâm, tàn ác và không cô gái trẻ được an toàn nếu bị lão bắt được. Sophie, Lettie và Martha, với tất cả các cô gái khác trong Market Chipping, đều được cảnh cáo không được đi ra ngoài một mình, điều đó làm các cô rất bực tức trong lòng. Họ đều tự hỏi không biết lão pháp sư Howl làm gì với mấy cái linh hồn mà lão trộm được.

Tuy nhiên, không lâu sau cả ba chị em đều có việc khác chiếm trọn tâm trí, vì Ông Hatter đột nhiên qua đời khi Sophie đủ tuổi rời khỏi trường. Khi đó mọi người mới biết ra là ông Hatter đã quá tự hào về các con. Những món lệ phí cho trường học đã làm cho cái cửa tiệm đầy nợ. Khi đám tang kết thúc, Fanny ngồi trong phòng khách trong ngồi nhà cạnh cửa tiệm và giải thích hoàn cảnh hiện tại của họ.

“Mẹ e rằng các con phải rời khỏi trường,” cô nói. “Mẹ đã tính toán mọi việc rất kỹ, và cách duy nhất mà mẹ có thể giữ cửa tiệm và nuôi cả ba đứa là gởi các con vào một nơi học việc nào đó. Cửa tiệm không thể giữ cả ba người được. Mẹ không thể nuôi nổi. Đây là quyết định của mẹ. Trước hết là Lettie –“

Lettie nhìn lên, vẻ đẹp rực sáng mà tang phục cũng không giấu nổi. “Con muốn tiếp tục đi học,” cô nói. “Rồi con sẽ được học, cưng ạ,” Fanny đáp. “Mẹ đã xin cho con một chân phụ việc ở Ceseri’s rồi, tiệm bánh ngọt ở Market Square đó. Họ nổi tiếng đối xử với các người học việc như những ông vua và bà hoàng, và con sẽ rất vui ở đấy, cũng như sẽ học được một nghề hữu ích. Bà Ceseri là một khách hàng tốt và người bạn tốt, và bà đã đồng ý nhận con.”

Lettie mỉm miệng cười tỏ vẻ cho người ta biết cô không thích điều đó chút nào. “Cám ơn mẹ,” cô nói. “Thật may là con thích nấu nướng đấy chứ?”

Fanny thở phào nhẹ nhõm. Lettie có thể trở nên rất bướng bỉnh nếu cô bé muốn. “Còn Martha,” cô nói. “Mẹ biết con còn quá nhỏ để đi làm việc, nên mẹ đã suy nghĩ rất lâu về việc tìm cho con một chức học việc dài, tĩnh lặng và sau này trở nên ích lợi cho con nếu con quyết định làm gì đó. Con có biết người bạn cũ của mẹ, dì Annabel Fairfax?”

Martha, gầy và đẹp, đôi mắt nâu cô nhìn Fanny với vẻ bướng bỉnh cũng gần bằng Lettie. “Mẹ muốn nói cái bà hay nói nhiều đó hả,” cô nói. “Bà phù thủy à?”

“Đúng, với ngôi nhà đẹp và khách hàng khắp cả Folding Valley,” Fanny sôi nổi đáp. “Dì là một người tốt, con ạ. Dì sẽ dạy con tất cả những gì dì ấy biết và giới thiệu con cho tất cả những người nổi tiếng ở Kingsbury. Tương lai con sẽ được an bày khi học xong.”

“Dì ấy là một người tốt,” Martha thừa nhận. “Được rồi.”

Lắng nghe, Sophie biết rằng Fanny đã khéo tính toán cho mọi chuyện. Lettie, cô con gái thứ hai, không thể trở nên thành công nhiều, nên Fanny đã đặt cô ở một chỗ mà cô có thể gặp một cậu phụ việc đẹp trai và cả hai sẽ sống hạnh phúc bên nhau suốt đời. Martha, người đã định sẵn sẽ có phiêu lưu và thành công, sẽ học phép thuật và những người bạn có thế lực chống đỡ cho. Còn phần Sophie, cô biết chắc việc gì sẽ đến. Cô không ngạc nhiên khi Fanny nói, “Phần con, Sophie yêu dấu, dĩ nhiên là con sẽ kế thừa tiệm nón khi mẹ về hưu, bởi vì con là con gái lớn. Vậy nên mẹ đã quyết định sẽ tự tay dạy nghề cho con, để cho con có cơ hội học nghề này. Con có thích vậy không?”

Sophie khó có thể nói rằng cô nhắm mắt xuôi tay theo nghề làm nón. Cô nồng nhiệt cám ơn Fanny.

“Vậy là mọi sự đều quyết định theo như vậy!” Fanny nói.

Ngày hôm sau Sophie giúp Martha xếp quần áo của cô bé vào một cái hộp, và ngày hôm sau nữa họ tiễn cô đi trong cái xe chở khách, trông cô bé nhỏ thó, dáng nghiêm trang và hơi lo sợ. Bởi vì con đường đến Upper Folding, nơi dì Fairfax sống, nằm sau những dãy đồi nơi mà Lâu đài di động của Pháp sư Howl sống. Thật dễ hiểu cho sự sợ hãi của Martha.

“Con bé sẽ ổn thôi,” Lettie nói. Lettie từ chối mọi sự giúp đỡ sắp xếp. Khi xe chở khách vừa khuất bóng, Lettie quăng mọi thứ của cô vào trong một cái bao gối, và trả cậu bé hàng xóm sáu xu để đem nó vào tiệm Cesari’s trong Market Square.

Cậu hàng xóm mang về một lá thư tay của Lettie, nói rằng cô đã để mọi thứ trong nhà trọ con gái và tiệm Cesari’s rất là vui. Một tuần sau người đưa thư mang về một lá thư từ Martha, bảo rằng Martha đã đến nơi an toàn, và dì Fairfax là “một người rất dễ thương và dùng mật ong với mọi thứ. Dì nuôi ong.” Đó là tất cả những gì mà Sophie biết được về các em mình trong một thời gian dài, bởi vì cô cũng bắt đầu học việc ngày mà Martha và Lettie đi khỏi.

Sophie dĩ nhiên đã biết rành nghề làm nón. Từ khi còn bé xíu, cô đã ra vô cái xưởng lớn trong sân nơi phơi và nặn mẫu nón, và hoa, trái cây và những vải viền khác làm từ sáp và lụa. Cô biết tất cả những người làm trong xưởng. Hầu hết bọn họ làm việc ở đó từ khi bố cô là một cậu bé. Cô quen với Bessie, người phụ việc duy nhất còn lại của tiệm. Cô biết những người khách đến mua hàng và ông lái xe đưa nón rơm từ miền quê đến xưởng để làm thành nón đẹp. Cô biết những người cung cấp vật liệu khác và làm sao để làm vải nỉ trong nón mùa đông. Không còn gì nhiều để Fanny có thể dạy cô, có lẽ ngoại trừ cách tốt nhất để dẫn dụ khách mua hàng.

“Con phải từ từ dẫn họ đến cái nón đúng,” Fanny nói. “Chỉ cho họ xem những cái xâu xấu trước đã, để họ biết được sự khác nhau khi họ đặt cái nón đẹp lên đầu.”

Trong thực tế, Sophie ít khi nào phải bán hàng. Sau một ngày quan sát cách làm việc trong xưởng, và ngày khác đi theo Fanny mua vải và lụa. Fanny giao cho cô công việc tết nón. Sophie ngồi trong một góc phòng nhỏ cuối tiệm, kết hoa hồng vào mũ thường, và kết mạng che vào mũ nhung, viền chúng với lụa, rồi trang trí trái cây giả và nơ bên ngoài. Cô rất khéo léo. Cô thích làm việc đó. Nhưng rồi cô cảm thấy mình bị cô lập và buồn chán. Những người làm việc trong xưởng quá già để có thể đùa giỡn với cô bé, ngoài ra, họ đối xử với cô như một người sẽ thừa kế tiệm. Chỉ có Bessie vẫn đối xử bình thường với cô. Nhưng Bessie chỉ duy nhất nói về anh nông dân mà Bessie sẽ đám cưới một tuần sau ngày lễ May Day. Sophie thấy ganh tị với Fanny, người có thể đi mua lụa bất cứ khi nào cô muốn.

Thú vị nhất là những cuộc tán dóc của các khách hàng. Không ai có thể mua nón mà không nói chuyện phiếm. Sophie ngồi trong góc một mình vừa khâu vừa nghe về vị Thị trưởng không bao giờ ăn rau xanh, và lâu đài của Pháp sư Howl đã đi xuống mép vực sâu lần nữa và lão ấy, xì xào, xì xào, xì xào… Những âm thanh lúc nào cũng hạ xuống thấp khi đề cập về pháp sư Howl, nhưng Sophie góp nhặt được là y đã bắt được một cô gái trong thung lũng tháng trước. “Yêu râu xanh!” tiếng xì xào nói, và nó lại trở thành giọng nói rằng tóc của Jane Farrier là một sự nhục nhã. Thứ đó thì ngay cả pháp sư Howl cũng chả thèm, nói chi đến một người đàn ông đàng hoàng. Rồi nó lại trở nên giọng xì xào sợ hãi, gấp gáp về mụ Phù Thủy vùng Hoang Phế. Sophie bắt đầu cảm thấy rằng pháp sư Howl và mụ Phù thủy vùng Hoang Phế nên thành một cặp.

“Dường như họ là một cặp trời sinh vậy. Ai đó nên làm mai họ với nhau,” cô phán cho cái nón mà cô đang khâu ngay lúc đó.

Nhưng vào cuối tháng những lời đồn đãi trong cửa tiệm đột nhiên lại nói về Lettie. Cesari’s, dường như, chứa đầy những cậu trai từ buổi sáng đến hoàng hôn, mỗi người đều mua thật nhiều bánh và đều yêu cầu đích thân Lettie phải là người bán hàng. Cô đã có hơn mười lời cầu hơn, từ con của thị trưởng đến cậu trai quét đường, và cô bé từ chối hết, nói rằng cô vẫn còn quá trẻ và chưa thể quyết định được.

“Con bé thật là biết suy nghĩ,” Sophie nói với cái nón mà cô đang kết lụa vào.

Fanny rất vui mừng khi nghe những tin này. “Mẹ biết Lettie sẽ có kết quả tốt!” cô vui vẻ nói. Sophie nhận ra rằng Fanny thấy vui khi Lettie không còn ở gần nữa.

“Lettie không tốt cho các nón,” cô nói với cái mũ, kết những vải lụa màu nấm. “Nó sẽ làm ngay cả mày trông rực rỡ, cái nón xấu xí ạ. Những cô gái khác nhìn Lettie và buồn cho mình.”

Nhiều tuần trôi qua và Sophie nói chuyện với những cái nón ngày càng nhiều. Không còn ai để cô nói chuyện nữa. Fanny thì đi ra ngoài mua vật liệu, hay kiếm đơn đặt hàng mua nón cả ngày, còn Bessie thì bận rộn với khách hàng với kể cho mọi người nghe về ngày cưới của cô. Sophie bắt đầu có thói quen đặt mỗi cái nón trên móc khi cô hoàn thành nó, nơi nó trong gần giống như một cái đầu không có thân hình, và ngừng lại một chút để nói với cái nón về thân hình của nó phía dưới nên trông như thế nào. Cô khen cái nón một chút xíu, bởi vì người ta phải khen khách hàng chứ.

“Chị có một vẻ quyến rũ bí ẩn,” cô nói với cái nón có mạng che lấp lánh kim tuyến. Với cái nón rộng vành màu kem đính hoa hồng, cô bảo, “Còn chị thì sẽ phải cưới anh chàng giàu có thôi!” và cái nón màu xanh nõn có gắn lông xanh, cô nói, “cậu xanh như một cái lá mùa xuân.” Cô nói với cái nón màu xanh là chúng có vẻ xinh xắn dễ thương và những cái nón có viền vải nhung rằng chúng trông có vẻ rất thông minh. Cô nói với cái nón màu nấm, “Cậu có một trái tim vàng và một chàng trai có thế lực sẽ nhìn thấy điều đó và sẽ yêu mến cậu.” Đó là tại vì cô cảm thấy tội nghiệp cho cái nón ấy. Nó trông thật rối rắm và chán buồn.

Jane Farrier đến cửa tiệm vào ngày hôm sau và mua nó. Tóc của cô có một chút xíu kỳ lạ, Sophie nghĩ, cô nhìn lén từ góc tiệm của mình, như là Jane đã cài tóc bằng những lá bài vậy. Thật đáng tiếc cho Jane đã chọn cái mũ bonnet đó. Nhưng mọi nguời dường như đều mua mũ và bonnets. Có lẽ tại vì tài bán hàng của Fanny hay là vì mùa xuân sắp đến, mà khách vào cửa hàng nườm nượp. Fanny bắt đầu nói, với một chút xíu dằn vặt, “Có lẽ mẹ không nên gởi Martha và Lettie đi nhanh như thế. Cứ như thế này thì chúng ta có thể xoay sở được.”

Có nhiều đơn đặt hàng mũ khi tháng Tư gần đến May Day làm ngay cả Sophie phải khoác cái áo màu xám và làm việc trong xưởng nữa. Nhưng việc làm vẫn còn nhiều đến nỗi cô vẫn phải cắt nón khi không tiếp khách, và mỗi buổi chiều cô phải mang chúng đến xưởng và làm việc dưới ánh đèn cho đến khuya để có mũ mà bán vào ngày hôm sau. Các chiếc nón màu xanh nõn nhưng của bà thị trưởng được nhiều người ưa chuộng, cũng như các cái bonnet màu hồng. Rồi, một tuần trước May Day, vài người bước vào và hỏi cho những cái nón màu nấm rơm như cái nón mà cô Jane Farrier đã đội khi cô bỏ trốn với Bá tước Catterack.

Đêm đó, khi cô đang khâu, Sophie nhìn nhận với mình là cuộc sống của cô thật buồn chán. Thay vì nói chuyện với những cái nón, cô thử đội chúng lên khi cô hoàn thành, và ngắm mình trong gương. Đó là một sự sai lầm. Cái áo đầm xám không hợp với Sophie, đặc biệt là khi đôi mắt cô đỏ quạch lên vì khâu vá, và bởi vì tóc cô đã sẵn màu đo đỏ, cả cái mũ xanh và hồng đều không hợp. Cái nón màu nấm rơm đơn giản chỉ làm cô thêm già khụ. “Y như một mụ già!” Sophie nói. Không phải là cô muốn chạy trốn khỏi nhà với các vị bá tước, như là Jane Farrier, hay mơ mộng một nửa thị trấn muốn cưới cô, như là Lettie. Nhưng cô muốn làm một cái gì đó – không chắc lắm – thú vị hơn là chỉ khâu nón. Cô chợt nghĩ ngày mai cô sẽ đi thăm Lettie.

Nhưng cuối cùng cô không có đi. Hoặc là cô không có thì giờ, hoặc là cô không có đủ sức lực, hoặc là Market Square dường như xa lắm, hoặc là cô chợt nhớ rằng cô đang trong tình trạng nguy hiểm nếu gặp Pháp sư Howl – càng ngày cô càng thấy việc thăm em mình quả là quá khó khăn. Thật kỳ lạ. Sophie luôn nghĩ rằng mình cũng bướng gần bằng Lettie. Thế nhưng bây giờ cô lại thấy rằng có vài việc mình chỉ làm khi không còn lý do từ khước nữa. “Thật là vô lý!” Sophie nói. “Market Square chỉ cách hai con đường. Nếu mình chạy_.” Và cô tự thề với mình rằng cô sẽ đến tiệm Cesari’s khi cửa tiệm nón đóng cửa vào ngày May Day.

Trong lúc ấy có một tin đồn loan đến cửa tiệm. Đức Vua đã tranh cãi với em trai của ngài, Hoàng tử Justin, người ta nói, và hoàng thân đã bị đày đi. Không ai biết nguyên nhân của vụ tranh cãi, nhưng Hoàng tử dưới lốt giả dạng đã đến Market Chipping vài tháng trước, và không ai gặp ngài cả. Bá tước Catterack đã được phái đi tìm hoàng thân, nhưng chàng lại gặp Jane Farrier. Sophie lắng nghe và thấy buồn bực. Nhiều việc kỳ thú xảy ra chứ, nhưng chỉ xảy đến cho những người khác. Tuy vậy, nếu gặp Lettie thì cũng tốt.

Ngày May Day đến. Biển hoa băng rôn giăng đầy đường từ buổi sớm. Fanny đã đi ra ngoài từ sớm, nhưng Sophie có vài cái nón phải làm hết trước. Sophie vừa làm vừa hát. Nói cho cùng, Lettie cũng đang làm việc mà. Tiệm Cesari’s mở cửa đến nửa đêm vào những ngày lễ. “Mình sẽ ăn bánh kem của họ,” Sophie quyết định. “Mình đã không được ăn bánh đó lâu lắm rồi.” Cô nhìn đoàn người rộn rịp ngang qua cửa sổ trong bộ cánh sặc sỡ, những người bán hàng rong và đoàn xiếc đang đi trên cây gậy cao, và cảm thấy trong lòng rất vui vẻ.

Nhưng đến lúc cô khoác lên áo choàng xám lên mình và bước ra phố, Sophie không thấy vui chút nào. Cô như bị áp đảo. Ngòai đường có rất nhiều người đang đi qua, cười lớn và la hét, quá nhiều tiếng ồn và tiếng cười nói. Sophie như cảm thấy những tháng qua ngồi trong của hàng và may vá đã làm cô trở thành một bà già hay là một nửa người thực vật vậy. Cô quấn cái áo choàng quanh mình, và nhấc từng bước chân qua từng căn nhà, cố gắng không bị những đôi giầy xinh đẹp giẫm phải hay bị những cánh tay áo bằng lụa đụng phải. Khi đột nhiên có một tràng tiếng nổ lớn ở trên đầu xa xa, Sophie nghĩ mình sẽ ngất đi. Cô nhìn lên và thấy tòa lâu đài của Pháp sư Howl chỉ cách thị trấn một ngọn đồi, gần như là nó đang ngồi trên dãy ống khói vậy. Ánh lửa xanh bắn ra từ bốn cái tháp của lâu đài, tạo thành những quả cầu lửa xanh biếc nổ tung trên bầu trời, khá là kinh khủng. Pháp sư Howl có lẽ không ưa lễ May Day. Hoặc ông ta đang định tham gia cùng với thị trấn, theo cách riêng của ông. Sophie mất hết cả hồn vía để mà suy nghĩ. Cô đã phải quay về nhà, nếu lúc đó cô không đi được nửa đường đến tiệm Cesari’s rồi. Sophie chạy.

“Sao mình lại nghĩ mình muốn cuộc sống thú vị chứ?” cô tự hỏi khi đang chạy. “Mình sẽ sợ nó lắm. Làm chị cả của ba chị em là thế.”

Khi cô đến gần Market Square, mọi thứ càng tệ hơn, nếu có thể được. Hầu hết nhà trọ đều ở trong quảng trường. Đám đông thanh niên trẻ tuổi bảnh bao sặc mùi bia đang đi đi lại lại, áo choàng và tay áo dài và dậm đôi ủng mà họ chưa từng mang vào thường ngày, họ gọi nhau í ới, và chạy theo các thiếu nữ. Các cô gái lướt đi từng cặp, sẵn sàng được bắt chuyện. Đó là một ngày lễ May Day bình thường, nhưng Sophie cũng sợ nó luôn. Và khi một chàng trai đẹp trai trong cái áo xanh bạc tuyệt đẹp nhìn thấy Sophie, và quyết định bắt chuyện với cô, Sophie thu mình trong một cánh cửa tiệm và núp.

Chàng trai nhìn cô ngạc nhiên. “Không sao đâu, cô chuột xám,” chàng nói, mỉm cười tỏ ra thương hại. “Tôi chỉ muốn mời cô uống nước thôi. Đừng có sợ như vậy.”

Đôi mắt thương xót làm Sophie cảm thấy mắc cỡ. Chàng trai cũng thuộc vào loại đẹp trai bậc nhất, khuôn mặt xương xương, tao nhã – hơi lớn tuổi, trong lứa hai mươi – và mái tóc vàng trau chuốt. Tay áo chàng trai dài hơn tất cả mọi áo trong quảng trường, viền hoa văn và chỉ bạc lấp lánh. “Ồ, không, xin cám ơn, thưa ông,” Sophie lắp bắp. “Tôi-tôi đang đi gặp em tôi.”

“Vậy xin mời cô cứ đi,” người thanh niên đẹp trai cười. “Tôi là ai mà có thể ngăn một cô gái xinh đẹp đi thăm em chứ? Cô có muốn tôi dẫn đi không, cô có vẻ sợ?”

Anh ta dịu dàng hỏi, càng làm Sophie mắc cỡ hơn. “Không. Không, xin cám ơn!” cô thở hổn hển và chạy thoát khỏi anh ta. Chàng trai cũng xức nước hoa nữa. Mùi dạ lan hương quấn theo chân khi cô chạy. Thật là một người phong nhã! Sophie nhĩ, khi cô chen mình qua những cái bàn nhỏ bên ngoài tiệm Cesari’s.

Các bàn đều chật cứng. Bên trong cũng đầy người và ồn ào như ngoài Quảng trường. Sophie nhìn thấy Lettie giữa những người phụ việc tại quầy hàng bởi vì một nhóm đông những thanh niên đang dựa vào đó và gọi tên cô. Lettie, xinh đẹp như lúc nào và có lẽ hơi ốm, đang nhanh nhẹn gói bánh vào hộp, cột một chút nơ trên đó và nhìn xuống dưới cánh tay với một nụ cười và trả lời cho mỗi chiếc hộp. Nhiều tiếng cười nói vang lên. Sophie phải chen lấn mới đến được quầy hàng.

Lettie nhìn thấy chị mình. Cô có vẻ run rẩy trong một giây lát. Rồi mắt miệng cô bé mở lớn, và cô la lên, “Sophie!”

“Có thể gặp em được không?” Sophie hét. “Ở đâu đó,” cô la, một chút xíu bất lực khi một cánh tay to lớn đẩy cô cách xa quầy hàng.

“Đợi em chút!” Lettie hét trả lại. Cô quay qua cô bạn đứng kế bên và thì thầm. Cô gái gật đầu, cười, và đứng vào chỗ của Lettie.

“Các anh sẽ có tôi,” cô nói với đám đông. “Ai kế tiếp?”

“Nhưng tôi muốn nói chuyện với cô cơ, Lettie!” một người hét trả lại.

“Nói với Carrie đi,” Lettie đáp. “Tôi muốn gặp chị tôi.” Không ai có vẻ gì phiền lòng hết. Họ đẩy Sophie đến cuối hàng, nơi Lettie nhấc tấm ngăn gỗ lên và vẫy tay gọi, bảo chị nhanh lên. Khi Sophie chen người qua tấm ngăn, Lettie nắm lấy tay Sophie và dẫn chị vào cuối cửa hàng, đến một gian phòng đầy kệ gỗ, trên đó đầy bánh ngọt. Lettie kéo ra hai cái ghế cao. “Chị ngồi,” cô nói. Cô bé liếc nhìn vào cái ngăn kệ gần đó, một cách lơ đàng, và ấn vào tay Sophie một miếng bánh kem trên đó. “Chị cần cái này,” cô bé nói.

Sophie lọt thõm và cái ghê, hít vào mùi thơm của bánh và cảm thấy một chút nước mắt. “Oh, Lettie!” cô nói. “Chị rất vui gặp lại em!”

“Vâng, còn em vui khi chị đã ngồi xuống,” Lettie nói. “Em không phải là Lettie. Em là Martha.”








Được sửa bởi Pidoll.admin ngày Sat May 15, 2010 4:04 pm; sửa lần 1.

Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 4:00 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 2
Sophie bị buộc phải đi tìm vận may

“Cái gì?” Sophie nhìn cô em đang ngồi trên ghế đối diện. Cô nhìn y chang Lettie. Cô đang mặc bộ áo xanh đẹp thứ hai của Lettie, một màu xanh biếc rất hợp với cô bé. Cô có mái tóc đen và đôi mắt xanh của Lettie.

“Em là Martha,” cô em nói. “Chị đã bắt gặp người nào xé ngăn áo lụa của Lettie? Em chẳng bao giờ kể lại với Lettie chuyện đó. Chị có không?”

“Không,” Sophie nói, khá là kinh ngạc. Giờ đây cô có thể nhận ra đây là Martha. Cách nghiêng nghiêng đầu của riêng Martha, và cách Martha đặt hai tay trên đùi với hai ngón tay cái xoay xoay. “Tại sao?”

“Em đã sợ chị sẽ đến thăm,” Martha đáp, “bởi vì em biết em phải nói thật với chị. Giờ nói rồi thì thấy thoải mái ghê. Chị phải hứa không được nói với ai. Em biết chị sẽ không nói nếu đã hứa. Chị là người biết giữ lời.”

“Chị hứa,” Sophie trả lời. “Nhưng tại sao? Làm cách nào?”

“Lettie và em sắp xếp với nhau,” Martha kể, hai ngón tay cái xoay xoay, “bởi vì chị Lettie muốn học phép thuật mà em thì không muốn. Lettie có đầu óc, và chị ấy muốn sử dụng chúng trong tương lai – chỉ là không được nói điều đó với mẹ! Mẹ quá ghen tị với Lettie để công nhận rằng chị ấy cũng có đầu óc!”

Sophie không thể tưởng tượng nổi Fanny lại như thế, nhưng cô cho qua câu nói đó. “Nhưng còn em thì sao?”

“Ăn bánh đi chị,” Martha nói. “Ngon lắm. Đúng đó, em có thể khôn ngoan nữa. Em chỉ mất hai tuần tại nhà dì Fairfax để tìm ra câu thần chú nào cho cuộc tráo đổi. Em thức thật khuya và bí mật đọc sách của dì, cũng dễ thôi. Rồi em xin phép được đi thăm gia đình, dì Fairfax nói được. Dì ấy rất tốt. Dì tưởng em nhớ nhà. Em đọc câu thần chú đó và đến đây, chị Lettie đến chỗ dì Fairfax giả làm em. Tuần đầu tiên là khó nhất, khi em không biết những thứ mà em cần biết. Khó chịu lắm! Nhưng rồi em khám phá ra là người ta thích em – chị biết không, nếu chị thích họ - và rồi mọi việc đều ổn thỏa. Dì Fairfax còn chưa đá Lettie về nhà, nên em nghĩ rằng chị ấy cũng khỏe.”

Sophie ngồm ngòam nhai bánh mà không thật sự thưởng thức nó. “Nhưng tại sao hai em lại làm vậy?”

Martha lắc lư cái ghế, nở nụ cười trên mặt Lettie, hai tay cái xoay xoay vui vẻ. “Em muốn lấy chồng và có mười đứa con.”

“Em chưa đến tuổi!” Sophie thốt.

“Chưa,” Martha đồng ý. “Nhưng chị phải hiểu em phải bắt đầu nhanh chóng nếu muốn có mười đứa con. Cách này còn cho em thời gian chờ đợi xem người ta có thích em vì em hay không. Câu thần chú sẽ dần dần nhạt đi, và rồi em sẽ trở lại thành chính em.”

Sophie kinh ngạc thấy mình đã nuốt chửng hết cái bánh mà không xem nó là loại bánh gì. “Tại sao mười đứa?”

“Tại vì em muốn nhiều như thế,” Martha đáp.

“Chị chưa từng nghe!”

“Well, nói với chị có nghĩa lý gì khi chị quá bận ủng hộ mẹ trong việc tìm vận may của em,” Marth nói. “Chị tưởng mẹ nghĩ vậy thật. Em cũng tưởng thế, cho đến khi bố mất và em thấy mẹ chỉ muốn xua chúng ta đi – đặt Lettie nơi mà chị ấy có thể tìm thấy nhiều con trai để cưới, và cho em đi xa thật xa! Em rất tức giận, và nghĩ, Sao lại không? Em bàn với Lettie và chị ấy cũng giận dữ, tụi em cùng bày mưu. Giờ thì tụi em đang rất vui vẻ. Nhưng cả hai đều buồn cho chị. Chị quá thông minh và quá tốt bụng để mà phải chịu kẹt với cửa tiệm nón đó đến cuối đời. Tụi em bàn với nhau, nhưng không nghĩ ra được cách gì giúp chị.”

“Chị cũng ổn mà,” Sophie phản đối. “Chỉ hơi chán tí thôi.”

“Ổn sao?” Martha kêu lên. “Vâng, chị chứng minh mình ổn bằng cách vài tháng rồi không đến đây thăm em, lúc đến thì lại bận cái váy xám xấu xí này, trông có vẻ như là em làm chị sợ! Mẹ đã làm gì với chị vậy?”

“Không có,” Sophie thấy không thoải mái. “Cửa tiệm giờ bận rộn lắm. Em không nên nói về Fanny như vậy đâu, Martha. Mẹ là mẹ của em.”

“Đúng, và em giống mẹ đủ để hiểu được me,” Martha cãi lại. “Đó là lý do mà mẹ gởi em đi xa. Mẹ biết không cần phải tàn nhẫn để biết cách lợi dụng người ta. Mẹ biết chị rất vâng lời. Mẹ biết chị luôn nghĩ mình sẽ thất bại vì chị là chị cả. Mẹ đã sai khiến chị một cách hoàn hảo và bắt chị làm nô lệ cho mẹ. Em dám cá mẹ chưa từng trả lương cho chị.”

“Chị còn đang học việc,” Sophie phản đối.

“Em cũng vậy nè, nhưng em vẫn có lương. Bà chủ biết rằng em đáng giá đó,” Martha đáp. “Cửa tiệm nón hiện đang ăn nên làm ra, tất cả là nhờ chị! Chị may cái nón xanh đó làm bà vợ thị trưởng trông y như một cô gái trẻ, đúng không?”

“Cái nón màu xanh nõn. Chị đã khâu nó.” Sophie nói.

“Và cái bonnet mà Jane Farrier đã đội khi gặp nhà quý tộc đó,” Martha tiếp tục. “Chị là một thiên tài may nón và áo, mẹ biết điều đó! Chị đã trói cuộc đời mình khi chị may cho Lettie cái áo dạ hội vào lễ May Day năm ngoái. Bây giờ thì chị kiếm tiền trong khi mẹ đi nhún nhẩy.."

“Mẹ ra ngoài mua vật liệu,” Sophie bênh vực.

“Mua vật liệu!” Martha thét lên. Ngón tay cái quay nhanh hơn. “Việc đó chỉ chiếm một buổi sáng thôi, em đã thấy mà, Sophie, và tận tai nghe. Mẹ bước vào trong một cỗ xe thuê, bận áo mới do tiền chị làm, đến thăm tất cả biệt thự dưới thung lũng! Họ nói mẹ sẽ mua ngôi nhà lớn ở Vale End và ăn mặc lộng lẫy. Còn chị đang ở đâu?”

“Well, Fanny xứng đáng được hưởng thụ sau khi đã nuôi dạy chúng ta khôn lớn,” Sophie nói. “Chị thì đã thừa kế cửa tiệm rồi.”

“Thật là một cuộc đời!” Martha kêu lên. "Chị nghe em..."
Nhưng tại giây phút ấy hai hàng kệ trống bị kéo về phía đối diện căn phòng, và một người phụ việc ló đầu ra. “Đúng là tiếng cậu, Lettie,” cậu ta nói, miệng nhe răng cười với vẻ thân thiện nhất. “Lứa bánh mới vừa ra lò. Hãy đi nói họ đi.” Cái đầu tóc xoăn và có chút bột của cậu trai lại biến mất. Sophie nghĩ rằng đó là một cậu bé dễ thương. Cô muốn hỏi có phải cậu ta là người mà Martha thích không, nhưng cô không có cơ hội. Martha nhanh chóng đứng bật dậy, vẫn tiếp tục nói.

“Em phải kêu mấy đứa đến mang hàng bánh ra ngoài,” cô nói. “Giúp em phía bên kia với.” Cô bé kéo cái kệ gần nhất và Sophie giúp em đẩy nó ra khỏi cửa vào gian hàng đông đúc, ồn ào. “Chị phải làm một cái gì đó cho chị, Sophie,” Martha vừa đi vừa thở hổn hển. “Lettie cứ nói không biết chị sẽ bị gì nếu tụi em không ở đó giúp đỡ chị. Chị ấy lo lắng thật là đúng.”

Trong cửa tiệm bà Cesari dùng bàn tay khổng lồ túm lấy cái kệ từ hai chị em, hét lời chỉ dẫn và một đám người chạy qua Martha để lấy thêm bánh. Sophie hét lớn tạm biệt và chạy vào trong đám người hỗn độn. Tán chuyện thêm với Martha lúc này thật không phải. Bên cạnh đó, cô muốn được ở một mình để suy nghĩ. Cô chạy thẳng về nhà. Bên ngoài bắt đầu bắn pháo bông, từng đợt pháo bắn thẳng lên trời cạnh con sông gần hội chợ, hỗ trợ với những quả cầu xanh bắn ra từ lâu đài Howl. Sophie cảm thấy mình thật vô dung trong lúc này.

Cô nghĩ mãi và nghĩ mãi, trong những tuần sau đó, và tất cả càng làm cô thấy lạc lõng và bất mãn. Mọi sự không còn như trước kia cô nghĩ nữa. Cô sửng sốt về Lettie và Martha. Cô đã hiểu lầm về hai đứa nó. Nhưng cô không thể tin Fanny lại là người như Martha đã nói.

Cô có rất nhiều thời gian để suy nghĩ, bởi vì Bessie đã nghỉ việc để đi đám cưới, và Sophie hầu như ở một mình trong tiệm. Fanny không có vẻ gì là ra ngoài nhiều, nhún nhẩy hay không, và công việc khá chậm sau lễ May Day. Ba ngày sau Sophie có đủ can đảm để hỏi Fanny, “Con có nên có lương hay không?”

“Dĩ nhiên rồi, con yêu, với tất cả mà con đã làm!” Fanny nhiệt tình trả lời, cô đội cái nón gắn hoa hồng rồi soi mình trong tấm kiếng ở cửa tiệm. “Chúng ta sẽ bàn việc này khi mẹ làm thống kê buổi chiều nay.” Rồi Fanny bước ra ngoài, không trở lại cho đến khi Sophie đóng cửa tiệm, và lấy những cái nón trong ngày về phòng mình để khâu.

Thoạt tiên Sophie thấy mình đã tàn nhẫn khi nghe lời Martha, nhưng giờ đây Fanny đã không nhắc lại chuyện lương, trong buổi chiều hôm đó và những ngày sau, Sophie bắt đầu nghĩ Martha đã nói đúng.

“Có lẽ mình đã bị lợi dụng,” cô nói với cái nón khi cô viền dải lụa đỏ và đính hạt anh đào sáp chung quanh, “nhưng phải có người làm việc này nếu không thì lấy nón đâu mà bán.” Cô hoàn thành cái nón, và bắt đầu tiếp tục nhặt cái nón trắng đen lên, đúng mốt, và rồi một ý nghĩ mới đến với cô. “Nhưng không có nón bán thì có sao hay không?” Cô nhìn vào dãy nón, đang treo hay đang chờ được khâu. “Bọn mi có gì tốt chứ?” cô hỏi chúng. “Bọn mi chẳng làm việc gì tốt cho tao cả.”

Và chỉ một chút thôi là cô đã rời khỏi nhà, đi tìm vận may của mình, cho đến khi cô nhớ lại mình là chị cả và không ích lợi gì. Cô nhấc cái nón lên lần nữa, thở dài.

Sophie vẫn còn thấy bất mãn, ngồi một mình trong cửa tiệm sáng hôm sau, khi một khách hàng bước vào, vung vẩy dải băng nơ trên bonnet màu nấm. “Hãy nhìn này!” cô gái rít lên. “Cô nói với tôi đây là cái nón mà Jane Farrier đã đội khi gặp ông bá tước. Cô nói dối. Không có gì xảy ra cho tôi cả!”
“Tôi không ngạc nhiên,” Sophie đáp, trước khi ngăn được mình. “Nếu chị ngốc đến nỗi đội cái nón với khuôn mặt đó, chị sẽ không nhận ra chính nhà vua nếu ông đến tìm chị - nếu ông ta còn chưa hóa đá khi nhìn chị trước.”

Người khách hàng trừng trừng nhìn cô. Cô ta quẳng cái nón vào mặt Sophie, và bước thình thịch ra khỏi cửa tiệm. Sophie cẩn thận nhét cái bonnet vào thùng rác, hơi thở hổn hển. Luật của cửa hàng: Mất bình tĩnh, mất khách hàng. Cô đã chứng minh cái luật đó rồi. Cô khó chịu khi thấy mình khá thích thú khi làm điều ấy.
Sophie không có thời gian để nghĩ lại. Bên ngoài có tiếng bánh xe chạy, và tiếng chân ngựa, một cái kiệu dừng ngay cửa sổ. Chuông cửa hàng reo lên và một người khách sang trọng nhất mà cô từng thấy bước vào. Áo lông chồn buông thả từ khuỷa tay, và kim cương lấp lánh trên cái áo đen. Mắt Sophie tiếp nhận người đàn ông trẻ tuổi đã đi theo quý bà đó vào, một khuôn mặt không có hình dạng với mái tóc đó, trang phục quí phái, nhưng xanh sao và đang rất buồn bực. Y nhìn Sophie với một vẻ kinh hoàng đầy khẩn cầu. Y rõ ràng là trẻ hơn quý bà đó nhiều. Sophie bối rối.

“Cô Hatter?” vị phu nhân đó hỏi trong một giọng như nốt nhạc nhưng đầy uy quyền.

“Vâng,” Sophie đáp. Người đàn ông lộ vẻ bực bội hơn bao giờ. Có lẽ vị phu nhân là mẹ ông.

“Tôi nghe nói cô bán nón đẹp nhất,” bà khách nói. “Hãy cho tôi xem.”

Sophie không tin bản thân mình để trả lời cho bất cứ ai với tâm trạng hiện nay. Cô đi và lấy những cái nón ra. Không có cái nào hợp với phu nhân đó cả, nhưng cô có thể nhìn thấy đôi mắt người thanh niên đó theo dõi cô và làm cô bất an. Quý bà đó khám phá những cái nón không hợp với bà ta nhanh chừng nào thì cái cặp kỳ lạ này sẽ đi nhanh chừng ấy. Cô làm theo lời Fanny dặn và đưa ra cái xấu xí nhất.

Bà khách bắt đầu từ chối những cái nón ngay lập tức. “Chán,” bà ta nói với cái bonnet hồng, và “Trẻ” với cái màu xanh nõn. Cái nón có mạng che và kim tuyến thì “Quyến rũ bí ẩn. Rất là hiển nhiên. Cô còn có gì nữa?”

Sophie lấy ra cái nón màu trắng đen đúng mốt, cái duy nhất có vẻ hợp với bà khách.

Bà nhìn nó với vẻ khinh thường. “Cái nón này không làm gì cho ai cả. Cô đang lãng phí thời gian của tôi, cô Hatter.”

“Chỉ vì bà đến đây và hỏi xem nón,” Sophie nói. “Đây chỉ là một tiệm nhỏ trong thị trấn nhỏ, Madam. Sao bà lại__” Sau lưng bà khách, người đàn ông há hốc miệng và dường như ra dấu cẩn thận. “__đến đây làm gì cho phiền?” Sophie kết thúc câu nói, không biết chuyện gì đang xảy ra.

“Tôi lúc nào cũng phiền khi có người chống lại Phù thủy vùng Hoang Phế,” người đàn bà đáp. “Ta đã nghe nói về cô, cô Hatter, và tôi không quan tâm đến các tiệm khác hay thái độ của cô. Tôi đến để ngăn chặn cô. Đó.” Bà ta giang tay ra và huơ huơ như nhạo báng trước mặt Sophie.

“Bà là Phù Thủy vùng Hoang Phế sao?” Sophie nói run run. Giọng cô dường như xa lạ vì sợ hãi và kinh ngạc.

“Đúng vậy,” bà ta đáp. “Và hãy để điều này dạy cô đừng có xen vào những gì thuộc về ta.”

“Tôi không nghĩ là tôi đã làm vậy. Có lẽ có sự hiểu lầm ở đây,” Sophie rền rĩ. Người thanh niên nhìn cô hoàn toàn kinh hoảng, dù cô không nghĩ tại sao như vậy.

“Không có hiểu lầm, cô Hatter,” bà phù thủy nói. “Đến đây, Gaston.” Bà ta quay đi và bước ra khỏi cửa. Trong khi chàng thanh niên mở cửa, bà ta quay lại đối diện Sophie. “Mà này, cô sẽ không thể nói với người ta là cô đang bị phù phép,” bà ta nói. Chuông cửa tiệm vang lên như chuông đám tang khi bà ta đi khỏi.

Sophie đặt tay lên mặt mình, không biết người đàn ông đó đã nhìn thấy gì. Cô cảm giác được những đường nhăn. Cô nhìn xuống tay mình. Chúng cũng nhăn nheo, và gầy guộc, với mạch máu lớn trên mu tay và các khớp tay to như cái bướu. Cô kéo váy áo xám lên và nhìn hai cái cổ chân gầy guộc, già cỗi làm đôi giầy trở nên đầy cái u nhỏ. Đó là đôi chân của một người khoảng chín chục tuổi và trông rất thật.

Sophie đi tìm cái gương và thấy mình phải đi khập khiễng. Khuôn mặt trên gương khá bình tĩnh, vì đó là điều cô đã mong đợi. Đó là khuôn mặt hốc hác của một bà già, khô héo và nâu nâu, xung quanh là lọn tóc bạc. Đôi mắt bà lão, vàng vọt và đầy nước, nhìn vào cô, có vẻ rất lạ lùng.

“Đừng có lo lắng,” Sophie nói với khuôn mặt. “Ngươi còn rất khỏe mạnh. Hơn nữa, lại rất hợp với ngươi.”

Cô nghĩ về hòan cảnh của mình, khá bình tĩnh. Mọi thứ đều dường như rất lặng lẽ và xa vời. Cô cũng không nghĩ đến việc giận dữ với bà Phù Thủy vùng Hoang Phế nữa.

“Well, dĩ nhiên ta phải cho bà ấy biết tay nếu có cơ hội,” cô nói với mình, “nhưng trong lúc này, nếu Lettie và Martha có thể chịu biến thành người khác, mình có thể chịu được biến thành như vậy. Nhưng mình không thể ở đây. Fanny sẽ nổi giận. Xem nào. Bộ váy xám này thì được rồi, nhưng mình cần áo choàng và thức ăn.”

Cô lạch bạch đi đến cửa và đặt lên tấm bảng ĐÓNG CỬA. Các khớp xương kêu kẽo kẹt khi cô đi. Cô phải còng lưng xuống và chậm chạp đi. Nhưng cô khá hài lòng khi thấy mình còn là một bà già khá khỏe mạnh. Cô không thấy ốm yếu hay bệnh tật, chỉ hơi cứng cỏi chút thôi. Cô khập khiễng đi lấy áo choàng, quấn nó quanh đầu và vai, như mấy bà già hay làm. Sau đó Sophie lê chân vào nhà, cô lấy túi tiền có vài xu, một miếng bánh mì và cheese. Cô đi ra khỏi nhà, cẩn thận giấu chìa khóa vào chỗ thường lệ, bước đi lạch bạch xuống đường, ngạc nhiên về sự bình tĩnh của mình.

Cô tự hỏi không biết có nên chào tạm biệt Martha hay không. Nhưng không thích ý nghĩ Martha sẽ không nhận ra cô. Tốt nhất là cứ đi. Sophie dự định sẽ viết thư cho hai cô em gái khi cô đến được chỗ ổng định, và lê chân vào đồng cỏ nơi Hội chợ đã diễn ra, qua chiếc cầu, và vào vùng quê phía trước. Hôm ấy là một ngày xuân ấm áp. Sophie khám phá ra thân phận bà già không ngăn cô thưởng thức vẻ đẹp của phong cảnh và hít thở hương thơm táo gai trong bụi cây cỏ, dù rằng mắt cô nhìn hơi mờ mờ. Lưng cô bắt đầu thấy đau. Cô đi khá vững, nhưng cô cần một cây gậy. Cô tìm trong các bụi cỏ để tìm xem có khúc cây gẫy nào không.

Rõ ràng là mắt cô không sáng như trước. Cô tưởng mình đã nhìn thấy một cái cây, khoảng một dặm trước, nhưng khi cô tiến tới gần, đó là phần chân của một con bù nhìn bị người ta quăng vào bụi rậm. Sophie dựng con bù nhìn thẳng lên. Mặt nó có hình củ cải khô. Cô thấy mình có tình cảm tương đồng với nó. Thay vì xé nó ra và lấy cây gậy ở dưới, cô dựng nó giữa hai cành cây, để cho nó đứng ngông nghênh trên bụi táo gai, với tay áo tả tơi trên đôi tay gỗ bay phần phật trong gió.

“Được rồi đó,” cô nói, và cái giọng ồm òam của bà già làm cô ngạc nhiên và phá ra cười ồm oàm. “Cả hai chúng ta ai cũng không có gì cả, đúng không hả bạn hiền? Có lẽ cậu sẽ trở lại cánh đồng nếu ta đặt cậu ở nơi mà người ta dễ thấy.” Cô trở về con đường lần nữa, nhưng một ý nghĩ đến và cô quay lại. “Nếu tôi không bị bắt phải chịu thất bại bởi vì vị trí của tôi trong gia đình,” cô nói với bù nhìn, “cậu có thể trở thành vật sống và giúp đỡ tôi trên đường tìm vận may. Nhưng dù sao tôi mong cậu được may mắn.”

Cô cười khúc khích lần nữa khi đi. Có lẽ cô hơi điên một chút, nhưng mấy bà già thì hay như vậy mà thôi.

Khoảng một giờ sau, cô tìm thấy một cây gậy khi ngồi xuống vệ đường để nghỉ và ăn bánh mì với cheese. Trong bụi rậm đột nhiên có tiếng động: tiếng cọt kẹt nho nhỏ, theo sau là tiếng kéo mạnh làm rơi những cánh hoa táo gai khỏi bụi. Sophie bò trên đầu gối gầy guộc để nhìn lên đám lá, hoa, và gai trong bụi, cô thấy một con chó ốm yếu màu xám ở đó. Nó bị dính vào một cây gậy quấn lên cái khăn quanh cổ. Thanh gỗ cấn vào hai nhánh cây trong bụi táo nên con chó không thể di chuyển đi đâu được. Đôi mắt nó hoang dại nhìn vào khuôn mặt của Sophie cũng đang ngó nó.

Khi còn là một cô gái, Sophie sợ tất cả các loại chó. Ngay cả là một bà già, cô vẫn thấy sờ sợ hai hàm răng trắng nhọn trong họng của con thú. Nhưng như cô nói với mình, “Như mình thế này, thì còn có gì phải sợ nữa chứ,” và mò trong túi áo để lấy cây kéo. Cô đưa cây kéo vào trong bụi và cắt miếng vải quanh cổ con chó.

Con chó rất hung dữ. Nó giựt ra xa tay cô và gầm gừ. Nhưng Sophie vẫn tiếp tục cắt. “Mày sẽ đói và bị quấn chết mất, cậu mình ạ,” cô nói với con chó với giọng ồm òam, “nếu mày không để tao cắt miếng vải cho mày. Thực đó, tao nghĩ có ai đã muốn xiết cổ mày. Có lẽ là do cái tính hung dữ.” Miếng vải cột thật chặt vào đầu con chó và miếng gỗ được quấn nhiều vòng vào đó. Cô phải cắt nhiều lần trước khi miếng vải rách ra và con chó có thể tự giải thoát ra khỏi thanh gỗ.

“Có muốn ăn bánh với cheese không?” Sophie hỏi nó. Nhưng con chó chỉ gầm gừ, đi về hướng đối diện của bụi cây, và chạy đi mất. “Cám ơn như vậy đấy!” sophie nói, xoa xoa cánh tay bị gai đâm. “Nhưng dù sao mày cũng đã cho tao một món quà.” Cô kéo thanh gỗ đã giam con chó vào bụi cây ra, và thấy nó là một thanh gậy dẫn đường rất tốt, cắt gọn gàng và đầu gỗ có đính sắt. Sophie ăn hết miếng bánh, và lại tiếp tục đi nữa. Con đường càng ngày càng lên cao con dốc hơn, và cây gậy đã giúp cô nhiều. Nó cũng là một bạn đồng hành dễ nói chuyện. Sophie nắm chặt nó với ý chí kiên định, nói chuyện với cây gậy. Xét cho cùng, mấy bà già thường nói chuyện một mình mà.

“Đã có hai cuộc gặp gỡ bữa nay,” cô nói, “và không một chút gì ma thuật cả. Tuy vậy, mày vẫn là một cây gậy tốt. Tao không có than phiền gì. Nhưng tao xứng đáng được gặp một sự kiện thứ ba, phép thuật hay là không. Tóm lại, ta muốn có cuộc gặp thứ ba. Không biết nó sẽ là gì.”

Cuộc gặp gỡ thứ ba đến vào lúc hoàng hôn khi Sophie đã trèo được khá xa lên đồi rồi. Một người đàn ông vừa đi vừa huýt sáo xuống con đường. Một người chăn cừu, Sophie nghĩ, trở về nhà sau khi chăn bầy cừu. Đó là một người đàn ông trẻ tử tế khoảng bốn mươi tuổi. “Chao ôi!” Sophie nhủ thầm. “Buổi sáng nay ta sẽ cho ông ta là một ông già. Thật là một sự thay đổi!”

Khi người chăn cừu thấy Sophie nói chuyện một mình, ông ta đi cẩn thận phía bên kia đường, và cất tiếng nhiệt tình, “Xin chào mẹ! Mẹ đang đi đâu vậy?”

“Mẹ?” Sophie nói. “Tôi không phải mẹ anh, cậu trẻ!”

“Có thể cho là thế,” người chăn cừu nói, đi nép qua bụi cây. “Cách gọi lịch sự thôi mà, nhìn thấy bà lên đồi vào lúc cuối ngày. Bà sẽ không xuống Upper Folding trước buổi tối, phải không?”

Sophie chưa từng nghĩ đến điều này. Cô đứng trên đường và nghĩ. “Như vậy cũng có sao đâu,” cô nói, một nửa cho mình. “Ta không thể than phiền trên đường đi kiếm vận may.”

“Không thể sao, thưa Mẹ?” người chăn cừu đáp. Bây giờ ông ta đã đi xuống đồi xa hơn Sophie một chút và thấy thoải mái hơn. “Vậy thì xin chúc mẹ may mắn, miễn là sự may mắn của mẹ không liên quan đến bầy cừu của người khác.” Và ông ta bước nhanh xuống đường với những bước chân dài, gần như là chạy, nhưng không phải.

Sophie nhìn sau lưng ông ta phẫn nộ. “Y nghĩ ta là mụ phù thủy!” cô nói với cây gậy của mình. Cô nửa muốn làm ông ta sợ bằng cách la lớn những chữ xấu xa sau ông ấy, nhưng việc đó quả là không tốt. Cô lại bước lên đồi, miệng lẩm bẩm một mình. Không lâu sau, bụi cỏ trở thành bờ và quãng đường đằng trước trở thành vùng cao đầy cây thạch nam, với rất nhiều khoảng dốc phủ đầy cỏ vàng. Sophie vẫn dứt khoát đi tiếp. Nhưng bây giờ đôi chân già cỗ bắt đầu thấy đau, và còn lưng cô, đầu gối. Cô cảm thấy quá mệt để nói chuyện và chỉ tiếp tục cất bước, thở hồng hộc, cho đến khi mặt trời xuống rất thấp. Và ngay lập tức Sophie nhận rõ ra rằng mình không thể tiếp tục đi bộ được nữa.

Cô ngã xuống một hòn đá bên cạnh đuờng, không biết phải làm gì tiếp theo. “Sự may mắn duy nhất mà tôi có thể nghĩ tới là một cái ghế thoải mái!” cô thở ra.

Hòn đá tỏ ra là một cái mũi đất, cho Sophie thấy một cảnh tuyệt vời của con đường mà cô đi lên. Hầu hết thung lũng đều nằm dưới chân cô trong ánh mặt trời lặn, cánh đồng, tường, bụi cây, nhánh sông, và những biệt thự của người giàu có tỏa sáng dưới bóng cây, chỉ ngay phía dưới dãy núi xanh biếc trong khoảng xa xa. Chỉ bên dưới cô là Market Chipping, Sophie có thể nhìn thấy những con đường lớn. Thấy Market Square và Cesari’s. Cô có thể thẩy một hòn đá xuống ống khói của căn nhà gần tiệm nón.

“Vẫn còn gần quá sức!” Sophie mất hết tinh thần nói với cây gậy. “Đi lâu như vậy mà chỉ lên trên nóc nhà thôi!"

Tảng đá dần lạnh hơn khi mặt trời xuống núi. Ngọn gió đông thổi bất cứ hướng nào mà Sophie quay đi để tránh nó. Bây giờ chuyện cô xuống núi trước đêm tối không còn là vấn đề không quan trọng nữa. Cô thấy mình nghĩ và nghĩ nhiều hơn về cái ghế thoải mái và bếp lửa, và cũng về đêm tối và thú hoang. Nhưng nếu cô trở về Market Chipping, đến nữa đêm chắc cô cũng còn chưa tới nữa. Tốt hơn là cô đi tiếp. Cô thở dài và đứng dậy, kẽo kẹt. Thật là tệ hại. Cô nhức mỏi cả thân mình.

Màn đêm buông xuống thật là nhanh và quãng đồi thanh nam thành màu xanh-xám. Ngọn gió sắc bén hơn. Tiếng thở và tiếng kẽo kẹt của xương mình lớn trong tai Sophie đến nỗi một hồi lâu mới nhận ra tiếng ken két và phì phò không phải đến từ cô. Cô ngước lên nhìn.

Lâu đài của Pháp Sư Howl đang ầm ầm nhảy đến chỗ cô đang đứng trong vùng đất hoang. Làn khói đen bay lên từ những lỗ châu mai. Nó trông cao và gầy, và nặng, và xấu, và rất là nham hiểm. Sophie dựa vào cây gậy và nhìn nó. Cô không sợ hãi chút nào. Cô tự hỏi không biết tại sao nó đi được. Nhưng suy nghĩ duy nhất trong đầu cô là đám khói đó có nghĩa là có một bếp lữa trong những bức tường đen đó.

“Well, sao không?” cô nói với cây gậy. “Pháp sư Howl sẽ không thèm hồn tao cho bộ sưu tập của ổng làm gì. Ổng chỉ thích các cô gái trẻ thôi.”

Cô giơ cao cây gậy và vẫy vẫy hống hách đến lâu đài.

“Ngừng lại!” cô hét.

Tòa lâu đài ngoan ngoãn thắng két lại khoảng năm mươi bước ở ngọn đồi trên đầu cô. Sophie thấy biết ơn khi cô bước đến nó.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 4:06 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 3
Sophie cùng lúc bước vào lâu đài và một cuộc trao đổi


Sophie bước đến cánh cửa lớn màu đen xì trên bức tường đen đối diện, từng bước chân lạch bạch vững chãi. Càng đến gần, tòa lâu đài trông càng xấu xí hơn. Nó quả thật là quá cao so với chiều cao của nó, và hình dạng không được bình thường. Trong bóng tối dày đặc mà mắt Sophie có thể thấy, nó được dựng từ những cái khối đen to lớn, như những cục than, và cũng như than, các khối đó có nhiều hình dạng và kích cỡ khác nhau. Khí lạnh toát ra từ những khối đen này khi cô đến gần, nhưng nó không làm cho Sophie sợ chút nào. Cô chỉ nghĩ đến cái ghế êm ái, bếp lửa, và giơ tay ra vươn đến cánh cửa.

Tay cô không thể đến gần nó. Một bức tường tàng hình chặn tay cô lại khoảng một bước chân đến cánh cửa. Ngón tay Sophie cáu kỉnh chỉ chỉ vào nó. Khi thấy không làm gì được, cô dùng cây gậy để khua. Bức tường tàng hình dường như che cánh cửa cao đến chừng mức mà cây gậy có thể với tới, và thấp đến cái gỗ thập nam ở dưới bệ cửa.

“Mở cửa ra!” Sophie khàn khàn hét lên.

Bức tường không có vẻ gì lay chuyển.

“Được rồi,” Sophie nói. “Ta sẽ tìm cửa sau vậy.” Cô tập tễnh bước đến hướng trái của lâu đài, nơi gần nhất và hơi dốc xuống. Nhưng cô không thể đi quành qua nơi đó. Bức tường vô hình lại chặn cô ngay khi đứng đối diện với các khối đen kì lạ. Lần này, miệng Sophie phát ra một từ đã học được từ Martha, một từ mà các phu nhân và tiểu thư quý phái không được biết đến, và cô nhảy lên dốc, ngược chiều để đến góc phía bên phải của tòa lâu đài. Không có vật chắn ở nơi đó. Cô đến ngay góc lâu đài và hăm hở bước đến cánh cửa đen thứ hai nằm chính giữa bức tường.
Vẫn có một bức chắn vô hình ở trước cánh cửa đó.

Sophie nghiến răng. “Ta gọi đó là bất lịch sự!” cô nói.

Khói đen tỏa ra từ những lỗ châu mai. Sophie ho. Bây giờ cô tức lắm rồi. Cô đã già, yếu ớt, lạnh lẽo, và nhức nhối khắp châu thân. Màn đêm đang buông xuống và tòa lâu đài chỉ ngồi đó và phả khói vào mặt cô. “Tao sẽ nói với Howl về chuyện này!” cô nói, và dứt khoác đi về góc lâu đài kế. Không có tường chặn đường cô đi - rõ ràng là phải đi vòng lâu đài theo hướng ngược chiều kim đồng hồ - nhưng kìa, chỉ nép một bên trên bức tường kế là cánh cửa thứ ba. Cánh cửa này nhỏ và xập xệ hơn hai cánh cửa kia nhiều.

“Cửa sau đây rồi!” Sophie thốt.

Tòa lâu đài bắt đầu di động khi Sophie đến gần cánh cửa sau. Mặt đất rung chuyển. Bức tường run rẩy, kêu răng rắc, và cánh cửa bắt đầu chuyển đi xa cô.

“Oh, không, mày đừng hòng!” Sophie la lên. Cô chạy theo cánh cửa và dùng cây gập gõ mạnh bạo vào nó. “Mở ra!” cô thét.

Cánh cửa hé vào bên trong một chút, nhưng vẫn tiếp tục trượt xa Sophie. Cô điên tiết nhảy theo, một chân đã bước được vào trong cửa. Rồi cô nhảy, trườn theo, rồi lại nhảy lần nữa, những khối đen xung quanh cánh cửa bật ra, kêu răng rắc trong khi tòa lâu đài chạy nhanh qua ngọn đồi. Sophie không ngạc nhiên nếu tòa lâu đài đã ngã chổng đầu xuống đất. Điều đáng kỳ lạ là nó không bị rớt ra từng mảnh ngay lúc này.

“Thật là một cách ngu ngốc để đối xử với tòa nhà!” cô thở mạnh khi đã ném mình vào bên trong. Cô phải bỏ cây gậy xuống, và chặn cho cửa mở ra để không bị đẩy bật ra lần nữa.

Khi cô bắt đầu thở lại bình thường, cô nhận ra một người đang đứng trước mặt cô, đang vịn cánh cửa. Chỉ cao hơn Sophie một cái đầu, nhưng cô có thể thấy đó chỉ là một cậu bé, lớn hơn Martha một chút. Và cậu ta dường như đang cố gắng đóng sập cửa và đẩy cô ra khỏi căn phòng ấm áp, sáng sủa sau lưng cậu và vào trong đêm tối lần nữa.

“Đừng có láo xược đóng cửa vào mặt bà già nhé, cậu bé!” cô nói.

“Tôi đâu có muốn thế, tại bà cứ mở cửa ra mà,” cậu ta phản đối. “Bà muốn gì chứ?”

Sophie liếc quanh căn phòng sau lưng cậu bé. Một số thứ có lẽ có phép thuật đang được treo lủng lẳng trên xà nhà – dây hành khô, dược thảo, và một số rễ cây hình thù quái lạ. Một vài thứ chắc chắn có phép thuật, như sách bìa da, chai lọ hình cong, và một cái đầu lâu cũ kỹ. Đối diện cậu bé là một cái bếp với một ngọn lửa nhỏ đang cháy tí tách trong lò. Một ngọn lửa quá nhỏ để tạo nên đám bụi khói to lớn bên ngoài, nhưng rõ ràng đây chỉ là phòng sau của lâu đài. Điều quan trọng hơn hết với Sophie, ngọn lửa đã cháy đến điểm cực hồng, ánh lửa màu xanh nhảy múa trên thanh củi, và bên cạnh nó, chỗ ấm áp nhất là một cái ghế thấp với nệm ở trên.

Sophie đẩy cậu trai qua một bên và nhảy vào cái ghế. “Ah! Vận may của tôi!” cô nói, nằm xuống thoải mái bên trong. Thật là sung sướng. Ngọn lửa làm những khớp xương nhức nhối ấm lên, cái ghế bảo vệ lưng cô, và cô biết nếu người nào muốn đuổi cô đi ngay lúc này, sẽ phải sử dụng ma thuật dữ dằng và bạo lực nhất mới được.

Cậu trai đóng cửa lại. Rồi cậu nhặt cây gậy của Sophie và lịch sự đặt nó cạnh cái ghế cho cô. Bây giờ Sophie mới nhận ra không có dấu hiệu nào chứng tỏ tòa lâu đài đang đi lên đồi cả: ngay một tiếng ầm ầm hay rung nhỏ nhất cũng không có. Thật kỳ lạ! “Hãy nói với Pháp sư Howl,” cô nói với cậu trai “là lâu đài sẽ rơi rụng từng mảnh nếu nó còn phải tiếp tục đi nữa.”

“Lâu đài được làm phép để giữ lại rồi,” cậu trai đáp. “Nhưng cháu e rằng Howl không có ở đây ngay lúc này.”

Đó là tin vui cho Sophie. “Khi nào ổng sẽ trở về?” cô hỏi hơi lo lắng.

“Có lẽ đến mai,” cậu trai nói. “Bà muốn gì? Cháu có thể giúp bà được không? Cháu là đệ tử của Howl, tên Michael.”

Một tin còn tốt hơn nữa. “Tôi e chỉ có Pháp sư mới có thể giúp được tôi,” Sophie nhanh chóng và chắc chắn nói. Mà điều đó cũng có lẽ là thật. “Tôi sẽ đợi, nếu cậu không ngại.” Rõ ràng Michael rất là ngại. Cậu ta cứ lảng vảng quanh cô một cách bất lực. Để cho cậu hiểu là cô không có ý định bị một tên đệ tử đuổi rời khỏi nơi này, Sophie nhắm mắt lại và giả bộ ngủ. “Nói với ổng tôi tên là Sophie,” cô thầm thì. “bà già Sophie,” cô thêm vào, để cho an toàn.

“Có thể là bà phải đợi cả đêm,” Michael nói. Đây chính là điều mà Sophie muốn, cô giả bộ không nghe thấy. Thật ra, cô hầu như đã chợp mắt một cái nhanh rồi. Cô hết sức mệt vì đã đi bộ cả ngày. Sau một hồi lâu, Michael cũng bó tay và trở về chỗ làm việc của mình trong cái ghế cạnh cây đèn.

Vậy là cô sẽ có một nơi trú ẩn cả đêm, ngay cả nếu phải dùng thủ đoạn, Sophie ngái ngủ nghĩ. Vì Howl là một người xấu, ông ta xứng đáng bị người ta lợi dụng. Nhưng cô quyết định sẽ đi xa khỏi đây trước khi Howl về và phản đối. Sophie nhìn cậu bé đệ tử bằng cặp mắt ranh mãnh và ngái ngủ. Cô ngạc nhiên khi thấy gã đệ tử là một cậu bé lịch sự, dễ thương. Nói cho cùng, cô đã bước vào nhà một cách khá sống sượng và Michael không than phiền gì cả. Có lẽ Howl giữ cậu để làm việc vặt vãnh. Nhưng Michael không có vẻ gì là một tên nô lệ. Cậu khá cao, da ngăm đen, khuông mặt dễ ưa, đáng tin cậy và quần áo sang trọng. Thật ra, nếu Sophie ngay lúc đó không thấy cậu cẩn thận đổ chất lỏng xanh từ cái bình thót cổ vào bột đen trong bình thủy tinh, cô có thể đã nghĩ cậu là con trai của một người nông dân giàu có. Kỳ thật!

Tuy vậy, mọi việc đều phải kỳ lạ khi có liên quan đến pháp sư, Sophie nghĩ. Trong cái nhà bếp, hay nhà kho này, Sophie nhanh chóng chìm vào giấc ngủ và không lâu đã ngáy khò khò. Cô không tỉnh dậy khi có một ánh chớp và tiếng nổ từ bàn làm việc, theo sau là tiếng chửi thề trong họng của Michael. Cô không dậy khi Michael, ngậm ngón tay bỏng vào trong miệng, đặt câu thần chú sang một bên, và đi lấy bánh và cheese khỏi phòng để đồ. Cô không nhúc nhích lúc Michael vấp phải cây gậy của cô và ngã xuống khi muốn choàng qua người cô để bỏ thêm củi vào lò, hay lúc Michael nhìn vào cái miệng mở rộng của Sophie và nói với bếp lửa, “Vẫn còn hàm răng. Bà ta chắc không phải là Phù Thủy vùng Hoang Phế?”

“Nếu đúng thì tớ đã không cho bả vào,” ngọn lửa đáp lại.

Michael nhún vai và lại lịch thiệp dựng cây gậy của Sophie lại. Sau đó cậu cũng lịch thiệp đặt khúc củi vào lò và cất bước lên phòng ngủ của mình trên lầu.

Giữa khuya, Sophie bị tiếng ngáy của ai đó đánh thức. Cô ngồi bật dậy, và khó chịu khi khám phá ra cô là người duy nhất ngáy ở đây. Dường như cô chỉ thiếp đi có vài giây, nhưng Michael đã biến mất trong vài giây đó, và cậu đã tắt đèn. Không nghi ngờ gì, đệ tử của pháp sư đã học cách làm đó trong tuần đầu tiên. Và cậu bé đã để ngọn lửa rất thấp. Nó phát ra tiếng xì xèo và nổ lách tách. Một ngọn gió lạnh lẽo lướt trên lưng Sophie. Cô nhớ lại là mình đang ở trong lâu đài của một pháp sư, và cũng nhớ lại, với một sự rõ ràng không thích thú gì, là có một cái đầu lâu trên bàn làm việc đâu đó sau lưng mình.

Cô rùng mình và quay cái cổ cứng ngắc lại, nhưng chỉ có bóng tối đằng sau. “Hãy có thêm chút ánh sáng, được không?” cô nói. Giọng khào khào nhỏ nhỏ không lớn hơn tiếng nổ của đống lửa. Sophie rất ngạc nhiên. Cô đã tưởng nó sẽ vang lên ầm trong tòa lâu đài. Tuy vậy, vẫn còn một giỏ củi khô bên cạnh. Cô vươn cánh tay già nua ra và nhấc thanh củi bỏ vào lò, làm tung lên những tia lửa màu xanh biếc và xanh lơ bay lên ống khói. Cô nhấc thanh củi thứ hai và ngồi xuống, không khỏi lo lắng liếc ra sau lưng, nơi ánh sáng xanh từ ngọn lửa đang nhảy múa trên phần xương sọ nâu nâu. Căn phòng khá nhỏ. Không có ai trong đó ngoại trừ Sophie và cái đầu lâu.

“Y đã đặt hai chân vào mồ trong khi tôi chỉ đặt một chân,” cô tự an ủi mình. Cô quay trở lại bếp lửa, hiện giờ đã sáng rực trong hai màu xanh biếc và xanh lơ. “Chắc là tại muối trong củi,” Sophie thì thầm. Cô ngồi xuống thoải mái, đặt đôi chân lên đầy vết phồng lên đệm chắn và đầu nằm trên vai ghế, nơi cô có thể nhìn ngọn lửa nhiều màu và bắt đầu mơ màng nghĩ mình sẽ làm gì vào buổi sáng. Nhưng rồi cô bị phân tâm một chút bởi một khuông mặt tưởng tượng trong ánh lửa. “Mày sẽ có một khuôn mặt nhỏ màu xanh,” cô thầm thì, “rất dài và gầy, với một cái mũi màu xanh. Những ngọn lửa xanh lè ở trên sẽ là tóc mày. Hãy nghĩ xem nếu ta còn chưa rời khỏi khi Howl trở về? Pháp sư có thể phù phép, ta biết. Và ngọn lửa tím ở dưới có thể làm miệng – mày có răng sắc nhọn, bạn hiền. Hai chòm lửa xanh dương làm lông mày…” Kỳ lạ, ngọn lửa cam duy nhất trong bếp có hai lông mày lửa màu xanh lơ, như cặp mắt, và chúng có một tia sáng màu tím ở chính giữa làm Sophie gần tưởng là chúng đang nhìn vào cô, như là hai tròng đen của con mắt. “Mặt khác,” Sophie tiếp tục, nhìn vào ngọn lửa màu cam, “nếu không bị phù phép, thì tim ta sẽ bị ăn mất trước khi ta quay lại.”

“Bộ bà muốn tim bị ăn lắm hả?” ngọn lửa hỏi.

Chắc chắn là ngọn lửa đã cất tiếng nói. Sophie nhìn thấy cái miệng tím chuyển động khi tiếng phát ra. Giọng nó khàn khàn gần bằng giọng cô, đầy tiếng lép bép và tiếng nổ của củi cháy. “Tự nhiên là tôi không,” Sophie trả lời. “Ngươi là ai?”

“Hỏa yêu,” cái miệng tím trả lời. Có nhiều tiếng rên rỉ hơn là tiếng nổ tí tách trong giọng nói, “Tôi bị giữ trong bếp lửa này bằng hợp đồng. Không thể bước ra khỏi chỗ này.” Rồi giọng nói nó trở nên phấn khỏi và kêu lốp bốp. “Mà bà là ai?” nó hỏi. “Tôi có thể thấy bà đang bị phù phép.”

Câu nói làm đánh thức Sophie khỏi trạng thái mơ màng. “Ngươi thấy!” cô kêu lên. “Vậy ngươi có thể xóa lời nguyền được chứ?”

Hỏa yêu im lặng trong khi đôi mắt cam trên khuông mặt xanh biếc của nó nhìn Sophie từ trên xuống dưới. “Đó là một lời nguyền mạnh mẽ,” nó nói. “Có vẻ như là của mụ Phù Thủy vùng Hoang Phế.”

“Đúng vậy,” Sophie đáp.

“Nhưng còn hơn thế nữa,” hỏa yêu phán. “Tôi cảm thấy có hai lớp phép thuật. Và dĩ nhiên bà sẽ không có thể nói với ai về điều này trừ khi họ đã biết trước.” Nó liếc nhin Sophie trong giây lát. “Tôi phải nghiên cứu đã,” nó nói.

“Vậy phải mất bao lâu?” Sophie hỏi.

“Có thể là lâu lắm,” hỏa yêu nói. Và nó nói thêm trong giọng mềm mại, quyến rũ, “Hay là bà hãy trao đổi với tôi? Tôi sẽ phá lời nguyền của bà, nếu bà tìm cách hủy hợp đồng của tôi.”

Sophie cảnh giác nhìn khuôn mặt xanh của con quỷ. Nó có vẻ giảo quyệt khi nói những lời trên. Mọi thứ cô đọc cho thấy sự nguy hiểm tột cùng khi trao đổi với quỷ. Và không còn nghi ngờ chi khi con quỷ yêu này nhìn đặc biệt tàn ác. Những cái răng nhọn dài màu tím. “Ngươi có thành thật hay không đấy?” cô hỏi.

“Không thật sự,” hỏa yêu thú nhận. “Nhưng bà muốn trông như vậy đến cuối đời sao? Lời nguyền đó đã thu ngắn đời bà hơn sáu mươi năm, theo tôi thấy.”

Đó là một ý nghĩ khủng khiếp, mà Sophie đã cố gắng không nghĩ đến nó đến tận lúc này. Nó làm mọi việc khác biệt. “Cái hợp đồng mà ngươi đang phải chịu,” cô nói. “Với Pháp sư Howl, đúng không?”

“Dĩ nhiên,” hỏa yêu đáp. Giọng nó lại tiếp tục than thở nữa. “Tôi bị trói vào bếp lửa này và không thể nhích một chân ra được. Tôi bị buộc phải làm tất cả những công việc ma thuật ở đây. Tôi phải gìn giữ lâu đài, làm nó di chuyển, và tạo ra những hiệu ứng hình ảnh đặc biệt cho người ta hoảng sợ, và phải nghe theo tất cả những gì Howl muốn. Howl quả là vô tâm, cô biết đấy.”

Sophie không cần phải đợi ai nhắc Howl là kẻ vô tâm. Mặt khác, yêu tinh có lẽ cũng ác tương đương. “Bộ ngươi không có gì lợi từ hợp đồng sao?” cô nói.

“Tôi tất nhiên đã không đồng ý nếu không có,” hỏa yêu trả lời, chớp chớp buồn bã. “Nhưng tôi đã không làm vậy nếu tôi biết nó là thế này. Tôi đã bị lợi dụng.”

Mặc dù rất cẩn thận, Sophie vẫn cảm thấy đồng cảm với hỏa yêu rất nhiều. Cô nghĩ về mình đã phải ngồi cặm cụi làm nón cho Fanny đi chơi. “Được rồi,” cô nói. “Điều kiện của hợp đồng là gì? Làm thế nào để hủy?”

Một nụ cười hạnh phúc nở trên mặt con quỷ. “Cô đồng ý trao đổi?”

“Nếu ngươi chịu phá lời nguyền của tôi,” Sophie đáp, cảm thấy mình đang dấn thân vào một việc nguy hiểm.

“Đồng ý!” hỏa yêu hét lửa, khuôn mặt dài của nó vui sướng nhảy tuốt lên ống khói. “Tôi sẽ phá lời nguyền ngay lúc bà hủy hợp đồng!”

“Vậy hãy nói làm sao mà hủy hợp đồng đi,” Sophie đáp.

Đôi mắt màu cam nháy nháy, và nhìn đi chỗ khác. “Không thể. Một điều kiện của hợp đồng là tôi và pháp sư không được nói về chi tiết điều lệ hợp đồng.”

Sophie ngay lập tức nhận ra mình đã bị gạt. Cô mở miệng nói vậy thì con quỷ hãy ngồi ở trong bếp cho đến ngày tận thế đi.

Hỏa yêu nhận ra điều cô sắp nói. “Đừng có vội mà!” nó khào khào. “Bà sẽ tìm ra nếu cô chịu quan sát và lắng nghe kỹ càng. Tôi sẽ giúp nếu cô chịu cố gắng. Hợp đồng này không có lợi cho chúng tôi về lâu dài. Và tôi biết giữ lời. Sự thật là tôi nằm đây cho thấy là tôi rất giữ lời!”

Nó nói rất chân thành, nhảy chồm lên đống củi với vẻ hồi hộp. Sophie lần nữa cảm thấy đồng cảm với nó. “Nhưng nếu tôi phải quan sát và lắng nghe, vậy là tôi phải ở trong lâu đài của Howl,” cô phản đối.

“Chỉ trong một tháng thôi. Hãy nhớ, tôi phải nghiên cứu lời nguyền của cô nữa,” hỏa yêu năn nỉ.

“Nhưng có lý do gì để tôi ở đây chứ?” Sophie hỏi.

“Chúng ta sẽ nghĩ ra mà. Howl khá vô dụng với nhiều thứ. Nói cho cùng,” con quỷ nói, phả ra nọc độc, “y quá lo cho mình để nhìn thấy xa hơn cái mũi. Chúng ta có thể gạt y – chỉ cần bà đồng ý ở lại.”

“Được rồi,” Sophie nói. “Tôi ở lại. Bây giờ hãy tìm lý do đi.”

Cô thoải mái ngồi xuống ghế trong khi con quỷ suy nghĩ. Nó nghĩ rất ồn ào, trong những tiếng thì thầm nổ lép bép, nhấp nháy, gợi cho Sophie nhớ cách cô nói chuyện với cây gậy trên đường đi đến đây, và nó tỏa sáng rực rỡ khi suy nghĩ trong tiếng hét vui mừng, mạnh mẽ làm cô chợp mắt lần nữa. Cô nghĩ hỏa yêu đã nói một số gợi ý. Cô nhớ mình lắc đầu với đề nghị là cô nên giả làm bà dì lâu không gặp của Howl, hoặc một, hai đề nghị nữa mà cô không còn nhớ nữa. Hỏa yêu dần dần thu nhỏ lại trong một bài hát nhẹ nhàng. Không phải một trong những ngôn ngữ mà Sophie biết – hay cô chỉ nghĩ thế, cho đến khi cô nghe rõ ràng tiếng “chảo chiên” vài lần – và nó rất là buồn ngủ. Sophie rơi vào giấc ngủ say, vói sự nghi ngờ rằng mình đã bị phù phép, và bị lừa gạt, nhưng cô cũng không buồn gì mấy. Cô sẽ thoát khỏi lời nguyền nhanh thôi…


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 4:08 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 4
Sophie khám phá vài việc kỳ lạ



Khi Sophie tỉnh dậy, ánh bình minh đang chiếu thẳng vào cô. Vì Sophie nhớ rằng trong tòa lâu đài không có cửa sổ, ý nghĩ đầu tiên là cô đã thiếp ngủ lúc đang khâu nón và đã mơ về chuyến đi xa nhà. Ngọn lửa trước mặt cô đã chìm xuống thành một cục than hồng và tro trắng, càng làm cô tin rằng cô đã nằm mơ về một con hỏa yêu. Nhưng những chuyển động đầu tiên nói rằng có những thứ không phải là mơ. Khắp nơi trên người phát ra tiếng kêu răng rắc.

“Ow!” cô kêu. “Đau khắp cả mình!” Giọng nói vang lên là một tiếng khò khè yếu ớt. Cô đặt bàn tay đầy cục u lên mặt, và thấy toàn là nếp nhăn. Ngay lúc ấy, cô khám phá là mình đã ở trong trạng thái bị kích động suốt ngày hôm qua. Cô như điên lên vì mụ Phù Thủy vùng Hoang Phế đã làm thế này với cô, cơn giận to lớn, kinh khủng khiếp. “Bước vào tiệm người ta và tự nhiên biến người ta thành già khằng!” cô kêu lên. “Oh, những gì ta sẽ làm với bà ấy!”

Cơn giận làm cô nhảy dựng lên trong một loạt tiếng xương kêu răng rắc, ken két, và cô lạch bạch bước đến bên cánh cửa sổ. Nó chỉ ở trên bàn làm việc một chút. Sophie hoàn toàn kinh ngạc, phong cảnh bên ngòai là một thị trấn bên bờ biển. Cô có thể thấy con đường xuống dốc, những căn nhà nho nhỏ, nghèo nàn phía hai bên, và những cột buồm xa xa trên mái nhà. Xa hơn cánh buồm, lần đầu tiên trong đời cô có thể nhìn thấy mặt biển lấp loáng.

“Ta đang ở đâu đây?” Sophie hỏi cái đầu lâu trên bàn. “Ta không đợi ngươi trả lời đâu nha bạn hiền,” cô vội nói thêm vì chợt nhớ rằng đây là lâu đài của một pháp sư, và cô quay lại để nhìn căn phòng kỹ hơn.

Đó là một căn phòng khá nhỏ, những cây gỗ đen to lớn trên xà nhà. Dưới ánh sáng ban ngày, căn phòng rất dơ bẩn. Gạch lót nền thì dơ dáy, nhầy nhụa, trong bếp phủ đầy bụi bặm, và mạng nhện giăng dầy đặc trên các cây cột gỗ. Trên cái sọ người có một lớp bụi. Sophie lơ đãng phủi bụi xuống khi cô đến gần bồn nước rửa chén bên cạnh bàn gỗ làm việc. Cô rùng mình thấy lớp nhờn nhờn màu hồng xám bên trong, và chất đục đục màu trắng nhỏ giọt từ ống nước phía trên. Howl hiển nhiên không quan tâm gì đến chỗ ở của người hầu.

Phần còn lại của lâu đài hẳn nằm phía sau một hay bốn cánh cửa thấp màu đen xung quanh phòng. Sophie mở cửa gần nhất, trong cái tường phía sau chỗ làm việc. Phía sau là một cái phòng tắm thật to. Nó là một phòng tắm mà người ta có thể thường tìm thấy trong một lâu đài, đầy đủ những thứ cần thiết cho một phòng tắm ở trong, một cái vòi sen tắm đứng, một bồn tắm với chân dựng lên, kiếng trên mỗi bức tường. Nhưng nó lại dơ hơn những cái phòng bình thường. Sophie nhăn mặt với cái toilet, cau mày với màu của bồn tắm, chùn lại ghê tởm khi thấy làn rêu xanh đang phát triển trong phòng tắm đứng, và dễ dàng tránh nhìn gương mặt nhăn nheo của mình trong gương bởi vì nó dính đầy các cục lồi lõm và vệt chảy của những chất không tên. Những chất không tên được cất trong một cái kệ thật lớn trên bồn tắm. Chúng nằm trong hộp, chai, lọ, ống, và mấy trăm bịch giấy. Cái hũ lớn nhất có dán tên. Nó gọi là BỘT SẤY KHÔ trong nét chữ xiêu vẹo. Sophie không chắc là có chữ S trong đó không. Cô thử cầm lấy một cái bịch lên. Nó có chữ DA nghệch ngoạc trên, cô vội vàng đặt nó vào. Một hũ khác có chữ MẮT cùng một nét chữ. Một ống để PHÂN HỦY.

“Vẫn còn xài được,” Sophie khẽ nói, nhìn vào trong bồn rửa mặt rùng mình. Nước chảy vào trong bồn khi cô vặn cái vòi màu xanh bằng đồng thau và chùi một số chất bẩn đi. Sophie rửa tay và mặt trong nước chưa rớt vào bồn, nhưng cô không dám xài BỘT KHÔ. Cô lau tay vào váy, rồi đi vào cánh cửa đen kế tiếp.

Cánh cửa mở ra cho một cái cầu thang bằng gỗ cũ kỹ. Sophie nghe có người đi lên và nhanh chóng đóng cửa lại. Dường như nó dẫn đến một cái gác xép nào đó. Cô đi đến cánh cửa kế. Bây giờ cô đã di chuyển khá thoải mái rồi. Cô là một bà già khỏe mạnh, như đã biết ngày hôm qua.

Cánh cửa thứ ba mở ra một cái vườn sau nhỏ với bức tường gạch bao quanh. Nó chứa đầy những đống gỗ, và hàng đống sắt, bánh xe, thùng sắt, sắt vụn, dây nhợ, cao gần đến đỉnh bức tường. Sophie đóng cửa đó lại luôn, hơi thắc mắc, tại vì nó không hạp với tòa lâu đài chút nào. Không có lâu đài nào nhìn thấy trên tường gạch. Chúng có thể cao chọc thủng bầu trời. Sophie chỉ có thể nghĩ rằng phần này ở chỗ mà cái tường bí ẩn đã chặn cô lại tối hôm trước.

Cô mở cánh cửa thứ tư, nó chỉ là một tủ đựng quần áo, với hai cái áo khóac nhung tuyệt đẹp nhưng đầy bụi đang treo trên hai cây chổi. Sophie đóng cửa lại, chầm chậm. Còn một cánh cửa còn lại trên tường với cánh cửa sổ, và đó là cánh cửa mà cô đã xông vào tối hôm qua. Cô bước chân đến và cẩn thận mở ra.

Cô đứng một giây lát nhìn ra phong cảnh chuyển động của những ngọn đồi, nhìn cây thạch nam dần mất tích bên cánh cửa, cảm thấy ngọn gió thổi lọn tóc bạc, và lắng nghe tiếng kêu rổn rảng của những tảng đá đen khi lâu đài di chuyển. Rồi cô đóng cửa và đến cửa sổ. Và ngoài kia lại là thị trấn cạnh bờ biển lần nữa. Không phải là tranh. Một người phụ nữ mở cửa nhà đối diện và đang quét rác ra đường. Cạnh nhà đó là một cánh buồm màu xám đang tiến gần đến mast trong từng cái giựt mạnh, làm náo động một đoàn chim hải âu bay lượn trên mặt biển lấp lánh.

“Tôi không hiểu được,” Sophie nói với cái đầu lâu. Rồi, bởi vì lửa sắp tắt, cô đến gần và đặt vài cây củi vào lò và quét một số tro bụi ra.

Lửa leo lên giữa những cây củi, nhỏ và cong, và bật lên một gương mặt xanh biếc với tóc xanh lơ. “Chào buổi sáng,” hỏa yêu nói. “Đừng quên vụ trao đổi nhé.”

Vậy là không phải là giấc mơ. Sopphie không khóc, nhưng ngồi xuống ghế một lúc nhìn vào hỏa yêu, và không chú ý đến tiếng động của Michael thức dậy, cho đến khi cô thấy cậu ta đang đứng bên cạnh, trông có vẻ hơi mắc cỡ và mệt mỏi.

“Bà vẫn còn ở đây,” cậu ta nói. “Có gì không ổn sao?”

Sophie khịt mũi. “Tôi già,” cô bắt đầu.

Nhưng, như bà phù thủy đã nói và hỏa yêu đoán, Michael nói vui vẻ, “Well, thì chúng ta rồi ai cũng già mà. Bà có muốn ăn sáng không?”

Sophie khám phá cô thật ra là một bà già rất khỏe. Sau bữa trưa chỉ có bánh mì và cheese hôm qua, hiện giờ cô đói ngấu. “Ăn!” cô nói, và khi Michael đến cửa kho, cô đứng dậy và ngó trộm qua vai cậu ta để xem trong đó có gì.

“Cháu e chỉ có bánh mì và cheese thôi,” Michael ngán ngẩm nói.

“Nhưng trong đó còn một giỏ trứng cơ mà!” Sophie đáp. “Và cái kia không phải là thịt sấy đó sao? Có muốn uống trà nóng không? Ấm nước đâu rồi?”
“Không có ấm nước,” Michael đáp. “Howl là người duy nhất biết nấu ăn ở đây.”

“Bà biết nấu ăn,” Sophie trả lời. “Đem cái chảo chiên đến đây rồi bà sẽ cho thấy.”

Cô rướn người lấy cái chảo đen to lớn đang treo trên cửa kho, mặc kệ Michael ngăn cản. “Bà không hiểu đâu,” Michael nói. “Đó là Calcifer, hỏa yêu. Nó không chịu cúi đầu xuống để nấu ăn cho bất cứ ai ngoài Howl.”

Sophie quay lại và nhìn hỏa yêu. Nó nháy mắt với cô tinh nghịch. “Tôi không chịu để bị lợi dụng đâu,” nó nói.

“Ý cậu là,” Sophie nói với Michael, “cậu không được uống nước trà nóng trừ khi Howl không ở đây hả?” Michael mắc cỡ gật đầu. “Vậy thì cậu mới là người bị lợi dụng!” Sophie tiếp. “Đưa nó đây.” Sophie giựt cái chảo từ những ngón tay đang nắm chặt của Michael, thảy thịt sấy vào đó, thuổng vào cái giỏ trứng, và đem chúng đến gần bếp lửa. “Nào, Calcifer,” cô nói, “đừng có giỡn nữa. Cúi đầu xuống.”

“Bà đừng hòng bắt tui!” hỏa yêu hét lên.

“Oh, vâng, được chứ!” Sophie hét trả lại, với cái giọng thường làm ngừng cuộc tranh cãi của hai đứa em. “Nếu không, ta sẽ đổ nước vào mình ngươi. Hoặc sẽ lấy cây gạt than này và kéo khúc củi ra,” cô nói thêm, bước chân từ từ tiến đến bếp lửa. Ở đó cô thì thào, “Hoặc ta sẽ không làm trao đổi nữa, hoặc sẽ nói với Howl, được chứ?”

“Oh, chết dẫm!” Calcifer làu bàu. “Sao cậu cho bà ấy vào làm gì hả Michael?” Hỏa yêu cúi mặt xanh dương sưng sỉa xuống cho đến khi tất cả những gì có thể thấy là một nhúm lửa xanh lơ nhảy trên múa trên củi.

“Cám ơn,” Sophie nói, và đập cái nồi lên trên tóc màu xanh lơ để cho Calcifer không ngóc đầu dậy được.

“Cầu cho thịt sấy của bà bị khét,” Calcifer nói, nghẹn ngào dưới cái chảo.

Sophie thẩy mấy miếng thịt sấy vào chảo. Nó đã vừa nóng. Miếng thịt khô cháy xèo, và cô phải quấn váy quanh tay để giữ quai chảo. Cánh cửa mở ra, nhưng cô không chú ý vì tiếng xèo xèo. “Đừng có ngốc,” cô nói với Calcifer. “Và hãy nằm yên để tôi đập trứng vào.”

“Oh, chào Howl,” Michael bất lực nói.

Sophie giật mình quay lại, khá nhanh. Cô ngó sững. Một anh chàng cao lớn trong bộ cánh hoa hòe viền xanh vàng vừa mới bước vào và đang dừng lại dựa cây đàn guitar vào góc tường. Anh ta hất mái tóc mềm đang rủ xuống đôi mắt màu xanh thủy tinh và ngó lại. Khuôn mặt dài, xương xương lộ vẻ bất ngờ.

“Bà là ai thế này?” Howl nói. “Tôi đã gặp bà ở đâu nhỉ?”

“Tôi là người lạ,” Sophie lạnh lùng nói dối. Nói cho cùng, Howl chỉ gặp cô một chốc để gọi cô là con chuột xám, cho nên nói vậy cũng gần đúng. Cô nên cám ơn các ngôi sao may mắn vì đã nhanh trí đáp lại như vậy, nhưng ý nghĩ chính của cô lại là, Chời đất ơi! Hóa ra Pháp sư Howl chỉ là một đứa trẻ trong lứa tuổi hai mươi, mà đã độc ác như vậy rồi! Thật là một sự khác biệt lớn khi ta già, cô vừa nghĩ vừa lật miếng thịt sấy trong chảo lại. Và cô sẽ chết trước khi để anh chàng bóng bẩy này biết cô là cô gái mà anh đã tội nghiệp vào ngày lễ May Day. Trái tim và linh hồn không có trong đó. Howl sẽ không được biết sự thật.

“Bà nói bà tên là Sophie,” Michael nói. “Bà đến vào tối hôm qua.”

“Làm sao mà bà già làm Calcifer cúi đầu xuống được?” Howl hỏi.

“Bả ăn hiếp tôi!” Calcifer nói với giọng đáng thương, nghẹn ngào từ dưới cái chảo đang nóng.

“Không phải ai cũng làm được vậy đâu,” Howl thận trọng nói. Anh ta dựng cây đàn guitar vào tường và tiến đến bếp lửa. Mùi dạ hương lan hòa lẫn với mùi thịt sấy khi anh ta nhẹ nhàng đẩy Sophie qua một bên. “Calcifer không thích ai trừ tôi nấu ăn,” anh nói, cúi thấp xuống và kéo tay áo dài thượt quanh cổ tay để cầm chảo. “Làm ơn đưa tôi hai miếng thịt sấy và sáu trứng, và nói tôi biết tại sao bà ở đây.”

Sophie ngó sững chiếc hoa tai xanh dương lủng lẳng trên lỗ tai Howl và đưa cho anh ta từng quả trứng một. “Tại sao tôi đến hả, cậu trẻ?” cô nói. Lời nói trở nên đương nhiên sau khi cô đã xem hết lâu đài. “Tôi đến bởi vì tôi là người dọn dẹp mới của cậu, dĩ nhiên...”

“Thật vậy sao?” Howl đáp, đập trứng bằng một tay và thẩy vỏ trứng giữa đống củi, nơi Calcifer dường như đang ăn chúng trong tiếng gầm gừ rào rạo. “Ai nói với bà thế?”

“Tôi nói,” Sophie trả lời, và thêm vào với vẻ đạo đức giả, “Tôi có thể rửa sạch đống bụi bẩn ở nơi đây dù tôi không thể lau sự độc ác ra khỏi cậu, cậu trẻ ạ.”

“Howl đâu có độc ác,” Michael xen vào.

“Có chứ,” Howl phản đối cậu. “Cậu quên là tôi rất độc ác ngay lúc này, Michael.” Anh hất cằm về phía Sophie. “Nếu bà thật sự muốn hữu dụng, hãy tìm dao nĩa và dọn cái ghế ra ngồi đi.”

Dưới bàn làm việc có vài cái ghế cao. Michael kéo chúng ra để ngồi và đẩy tất cả mọi vật trên bàn để có chỗ trống cho dao, nĩa. Sophie giúp cậu bé. Cô đã không trông chờ sẽ được Howl hoan nghênh, dĩ nhiên, nhưng anh ta đến giờ vẫn chưa đồng ý cho cô ở lại sau bữa sáng nữa. Michael không có vẻ gì là cần giúp đỡ, Sophie xách cây gậy lên, và đi từ từ, chầm chậm đặt nó trở về tủ treo quần áo. Khi thấy Howl cũng chẳng có vẻ để ý gì đến mình cả, cô nói, “Cậu có thể nhận tôi làm một tháng thử việc, nếu cậu muốn.”

Pháp sư Howl chẳng nói gì thêm ngoại trừ “Đưa dĩa đây, Michael,” và đứng dậy cầm chảo bốc khói. Calcifer vui vẻ ầm ầm nhảy vọt lên cao, và tỏa sáng rực rở trong ống khói.

Sophie thử buộc Pháp sư một lần nữa. “Nếu tôi sẽ phải lau chùi nơi đây trong một tháng,” cô nói, “Tôi muốn biết phần còn lại của tòa lâu đài ở đâu. Tôi chỉ tìm thấy phòng ngủ và một phòng tắm thôi.”

Dưới sự ngạc nhiên của cô, cả Michael và Pháp sư đều phá ra cười lớn.

Chỉ đến khi họ gần ăn xong bữa sáng Sophie mới phát hiện ra điều gì làm họ cười. Howl không những rất khó bị trói buộc. Anh chàng còn không thích trả lời câu hỏi chút nào. Sophie chịu thua luôn và quay qua hỏi Michael.

“Nói đi,” Howl nói. “Trả lời để bà già khỏi hỏi nữa.”

“Lâu đài không còn gì nữa đâu,” Michael giải thích, “trừ mọi cái mà bà đã thấy và hai cái phòng ngủ trên lầu.”

“Hả?” Sophie ngạc nhiên.

Howl và Michael cười lớn lần nữa. “Howl và Calcifer sáng chế ra cái lâu đài,” Michael giải thích, “và Calcifer giữ cho nó hoạt động. Bên trong chỉ là ngôi nhà cũ của Howl ở Porthaven, và là phần thật sự.”

“Nhưng Porthaven xa hàng dặm ngoài biển!” Sophie nói. “Thật là xấu quá! Tại sao mấy người lại cho cái lâu đài to lớn xấu xí này chạy lên chạy xuống khu đồi và làm mọi người ở Market Chippping sợ đến chết hả?”

Howl nhún vai. “Bà già lắm chuyện quá! Tôi đã đến thời điểm trong nghề nghiệp khi tôi phải gây ấn tượng cho mọi người với sức mạnh và sự độc ác của tôi. Tôi không thể cho Đức Vua nghĩ tốt về tôi được. Năm ngoái tôi còn xúc phạm một người có thế lực và tôi cần giữ họ xa ra.”

Đó là một cách tức cười để tránh mặt người ta, nhưng Sophie cho rằng các pháp sư có chuẩn mực khác với người thường. Và không lâu, cô khám phá ra lâu đài có những nét kì lạ khác. Họ đã ăn uống xong và Michael đang xếp dĩa trong cái bồn nước đầy nhớt cạnh bàn gỗ khi một tiếng gõ thật lớn vào cánh cửa.

Calcifer bừng sáng, “cửa Kingsbury!”

Howl, đang trên đường đi phòng tắm, quành lại mở cửa. Trên cửa có một quả đấm cửa gỗ hình vuông, gắn chặt vào rầm đỡ cửa, bốn phía sơn bốn màu khác nhau. Tại giây phút đó phần sơn màu xanh nằm ở phía dưới, nhưng Howl vặn nút để cho màu đỏ nhằm phía dưới trước khi mở.
Đứng bên ngòai là một nhà quý tộc cao sang, trên đầu đội mái tóc giả màu trắng cứng ngắc, và một cái nón trắng. Y vận bộ trang phục màu đỏ tươi, tím và vàng, và trên tay cầm một cây gậy quấn ruy băng xung quanh như một cây nêu nhỏ. Y cúi đầu chào. Mùi hoa đinh hương và hoa cam phảng phất vào phòng.

“Đức Hoàng Thượng muôn năm dâng tặng lời khen ngợi và gởi tiền cho hai ngàn đôi hia bảy dặm,” người này nói.

Phía sau lưng y Sophie thoáng thấy một cái xe kiệu đứng yên trong con đường toàn những tòa nhà xa hoa, chạm trổ tinh vi, nhà thờ, tháp nhọn và vòm xa xa, một cảnh tượng lộng lẫy cô chưa bao giờ thấy. Cô thấy tiếc khi người đứng ngoài cửa không bao lâu đã đưa một cái ví xủng xẻng tiền bằng lụa dài, và Howl cũng dùng từng ấy thời gian để nhận ví, cúi chào và đóng cửa lại. Howl vặn nút cửa lại để màu xanh chĩa xuống dưới và xếp cái ví dài vào trong túi áo. Sophie nhìn mắt Michael dõi theo cái ví tiền với vẻ khẩn trương, lo lắng.

Howl tiến thẳng vào phòng tắm, và gọi với ra ngoài. “Cần nước nóng trong này, Calcifer!” và mất tích trong một khoảng thời gian lâu thật là lâu.

Sophie không thể kềm được sự tò mò. “Ai đã ở ngoài cổng vậy?” cô hỏi Michael. “Hay tôi phải nói là ở nơi nào?”

“Cánh cửa đó mở ra chỗ Kingsbury,” Michael nói, “nơi Đứa Vua ngự. Tôi cho rằng người đó là thư ký của Đại Pháp Quan. Và,” cậu lo lắng nói với Calcifer, “ước gì ông ấy đã không đưa Howl từng ấy tiền.”

“Vậy Howl có cho tôi ở đây không?” Sophie hỏi.

“Nếu có cho, bà cũng sẽ không bắt anh ấy nói ra được đâu,” Michael trả lời. “Anh ghét bị trói buộc vào bất cứ cái gì lắm.”


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 4:11 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 5
Có quá nhiều "quét dọn"



Điều duy nhất có thể làm, Sophie quyết định, là cho Howl thấy cô là một người quét dọn xuất sắc, một kho báu thật sự. Cô cột miếng giẻ cũ kỹ quanh mái tóc trắng, cuộn tay áo lên khỏi cánh tay già nua gầy guộc và quấn cái khăn trải bàn cũ quanh mình để làm tạp dề. Khá là nhẹ nhõm khi biết chỉ có bốn phòng để dọn thay vì một tòa lâu đài rộng lớn. Cô nắm lấy một cái xô, một cây chổi và bắt tay vào làm.
“Bà đang làm gì thế?” Michael và Calcifer cùng hét lên.
“Quét dọn,” Sophie kiên nghị trả lời. “Cái chỗ này là một sự nhục nhã.”

Calcifer nói, “Đây không cần đâu,” và Michael càu nhàu, “Howl sẽ đá bà ra đó!” nhưng Sophie lờ cả hai. Từng đám mây bụi tung lên mù mịt.
Giữa làn khói bụi đó, có một tiếng gõ cốc cốc ngoài cửa. Calcifer bừng sáng lên, gọi, “cửa Porthaven!” và ách xì một tiếng rõ to làm văng những tia lửa tím qua đám mây bụi.

Michael rời khỏi chỗ làm việc và bước đến mở cửa. Sophie ngó xuyên qua đám bụi mà cô tung lên và nhìn thấy lần này Michael vặn nút xuống để màu xanh dương nằm phía dưới. Rồi cậu mở cửa ra con đường mà ta nhìn thấy qua cửa sổ.

Một cô gái nhỏ đứng đó. “Anh Fisher,” cô bé nói. “Em đến lấy cái bùa cho mẹ em.”

“Bùa an tòan cho bố em phải không?” Michael nói. “Đợi anh chút.” Cậu quay trở lại bàn làm việc và đong số bột từ hũ trên kệ vào trong một tờ giấy vuông. Trong khi cậu ta làm việc, bé gái tò mò ngó trộm Sophie cũng như cô cũng đang ngó trộm. Michael quấn tờ giấy gói bột lại và bảo, “Nói mẹ em rắc bột này xung quanh thuyền nha. Nó sẽ bảo vệ cho chuyến đi và trở lại, ngay cả trong bão.”

Cô bé lấy tờ giấy và đưa ra một xu. “Chẳng lẽ Pháp sư có bà phù thủy làm việc cho ông nữa sao?” cô hỏi.

“Không,” Michael đáp.

“Bà hả?” Sophie cất tiếng. “Đúng đó, con gái ạ. Bà là phù thủy xuất sắc và sạch sẽ nhất trong vương quốc Ingary.”

Michael đóng sập cửa và bực tức nói. “Tin đó sẽ loan cả vùng Porthaven. Anh Howl sẽ không ưa đâu.” Cậu lại quay nút xanh lục xuống phía dưới.

Sophie cười khì, không có vẻ hối hận chút nào. Có lẽ cô đã để cây chổi sể trong tay đặt ý tưởng vào đầu. Nhưng nó có thể sẽ thuyết phục Howl cho cô ở lại nếu mọi người đều nghĩ cô đang làm việc cho anh ta. Thật là kỳ cục. Nếu là một cô gái, Sophie sẽ rùng mình mắc cỡ vì những hành động của mình. Trong vai một bà già, cô không quan tâm đến cử chỉ hay lời nói chút nào. Cô cho đó là một sự thoải mái.

Cô còn ngó nghiêng như bà già lắm điều khi Michael nhấc tảng đá trong bếp lửa và giấu đồng xu của bé gái xuống dưới. “Cậu đang làm gì thế?”

“Calcifer và cháu đang cố tiết kiệm tiền,” Michael có vẻ ăn năn nói. “Howl xài hết từng đồng xu nếu chúng cháu không làm vậy.”

“Tiêu tiền như rác!” Calcifer ho. “Gã đó xài tiền của vua còn nhanh hơn tôi đốt củi. Thiệt vô lý.”

Sophie rắc một chút nước từ bồn rửa chén để bụi không bay lên. Calcifer thu mình trong ống khói. Sau đó cô quét sàn nhà một lần nữa. Cô vừa quét vừa tiến đến cửa để hòng nhìn cái nút vặn hình vuông trên cửa. Mặt thứ tư, mà cô chưa từng thấy sử dụng, có màu sơn đen ở trên. Tự hỏi không biết cái đó dẫn đi đâu, Sophie bắt đầu mạnh mẽ quét mạng nhện xuống khỏi thanh xà nhà. Michael rên lên và Calcifer lại hắt xì lần nữa.

Vừa lúc ấy Howl bước ra khỏi buồng tắm mang theo mùi nước hoa thoang thoảng. Anh chàng trông hết sức chải chuốt. Ngay cả hoa văn và chỉ thêu trên áo dường như rực rỡ lấp lánh hơn. Anh ngó một cái và tháo lui vào buồng tắm lần nữa với tay áo xanh bạc che lên đầu.

“Thôi đi bà già!” anh nói. “Để bọn nhện được yên!”

“Mấy mạng nhện là sự ô nhục!” Sophie tuyên bố, gạt chúng xuống thành từng chùm.

“Vậy thì quét chúng xuống và để bọn nhện được yên,” Howl đáp.

Có lẽ anh chàng có hấp dẫn đặc biệt với bọn nhền nhện, Sophie nghĩ. “Chúng sẽ chỉ giăng mạng nhện nữa thôi,” cô trả lời.

“Để giết ruồi, rất là hữu dụng,” Howl nói. “Bà làm ơn giữ yên cái chổi cho đến khi tôi bước ra khỏi nhà của tôi cái đã.”

Sophie đứng tựa cái chổi, mắt dõi theo Howl đi qua căn phòng và lượm cây đàn guitar lên. Khi anh đặt bàn tay lên chốt cửa, cô hỏi, “Nếu màu đỏ dẫn đến Kingsbury, và màu xanh dương dẫn đến Porthaven, vậy màu đen đi đến đâu?”

“Bà già lắm chuyện!” Howl nói. “Nó dẫn đến chỗ trốn riêng của tui và bà sẽ không được biết nó ở đâu.” Anh mở cửa ra vùng đất hoang rộng lớn đầy cây thạch nam và đồi núi.

“Khi nào anh trở lại hả Howl?” Michael chán chường hỏi.

Howl giả tảng không nghe thấy. Anh nói với Sophie, “Bà không được giết một con nhện khi tôi đi vắng.” Và cửa đóng sập sau lưng anh chàng. Michael liếc Calcifer đầy ý nghĩa và thở dài. Calcifer cười khăng khắc vẻ gian ác.

Vì không có ai giải thích Howl đi đâu, Sophie kết luận là anh ta lại đi săn gái đẹp và bắt đầu làm việc càng hăng hái mạnh mẽ hơn. Không dám làm tổn hại bất cứ con nhện nào sau lời Howl dặn, cô đập cây chổi vào xà nhà và quát lên, “Đi ra, nhền nhện! Cút khỏi mắt ta!” Mấy con nhện chạy bán sống bán chết khắp mọi nơi, và mạng nhện lại rơi từng chùm xuống sàn nhà. Tiếp theo dĩ nhiên cô phải quét nhà lần nữa. Sau đó cô lại phải quỳ xuống và lau chùi thật kỹ.

“Cháu ước gì bà ngừng tay!” Michael nói, ngồi trên bậc thang tránh xa cô ra.

Calcifer co rúm lại sát phía trong lò, lầm bầm trong miệng, “Ước gì tui đã không làm cuộc trao đổi đó với bà!”

Sophie vẫn vận hết sức lực và tiếp tục lau chùi. “Hai người sẽ vui vẻ hơn khi mọi thứ được sạch sẽ và ngăn nắp,” cô nói.

“Nhưng cháu khốn khổ ngay lúc này!” Michael phản đối.

Howl không trở về cho đến tận khuya. Lúc đó Sophie đã quét dọn và lau chùi đến rã rời, không còn cử động được nữa. Cô ngồi cúi đầu trong ghế, mình mẩy đau nhức. Michael níu tay áo thụng dài của Howl và kéo anh vào phòng tắm, nơi Sophie có thể nghe cậu bé hăng hái tuôn ra vô số lời than thở. Những câu như “bà già kinh khủng hoảng” và “không nghe một lời nào!” nghe khá là rõ, dù rằng Calcifer đang tru tréo, “Howl, ngăn bà già lại đi! Bả giết cả hai đứa mất!”

Nhưng Howl chỉ nói, sau khi Michael buông ra, là “Bà có giết con nhện nào không?”

“Tất nhiên không!” Sophie cáu kỉnh đáp. Cơn đau nhức làm cô nóng nẩy. “Chúng nhìn tôi và chạy trối chết. Chúng là gì? Mấy cô gái bị cậu ăn tim hả?”
Howl phá ra cười. “Không, chỉ mấy con nhện thôi,” anh nói và lại mơ mơ màng màng bỏ đi lên cầu thang.

Michael thở dài. Cậu vào trong phòng chứa quần áo và tìm cho được một cái giường gấp cũ kỹ, nệm rơm, và vài tấm chăn, cậu đặt tất cả vào khoảng trống dưới cầu thang. “Đêm nay bà ngủ ở đây thì tốt hơn,” cậu nói với Sophie.

“Vậy nghĩa là Howl đã chịu cho bà ở lại hả?” Sophie hỏi.

“Cháu không biết!” Michael hơi khó chịu đáp. “Howl không bao giờ hứa gì với ai cả. Cháu phải ở đây sáu tháng trước khi anh ấy biết là cháu sống ở đây và nhận cháu làm đệ tử. Cháu chỉ nghĩ một cái giường thì tốt cho bà hơn là ghế.”

“Cám ơn cháu nhiều,” Sophie biết ơn nói. Cái giường quả nhiên thoải mái hơn ghế, và khi Calcifer than đói bụng vào buổi tối, Sophie có thể dễ dàng lập cập đứng dậy và đưa thanh củi nữa cho nó.

Trong những ngày sau đó, Sophie quét dọn quanh tòa lâu đài không yếu đi chút nào. Cô rất thưởng thức chính mình. Tự nhủ là phải tìm ra manh mối, cô rửa cửa sổ, tẩy sạch cái bồn nước rò rỉ, bắt Michael dọn sạch mọi thứ trên bàn làm việc và kệ tủ để cô chùi rửa. Cô dọn mọi thứ ra khỏi phòng quần áo và lấy tất cả mọi thứ xuống khỏi xà nhà và lau chùi luôn. Cái sọ người, cô tưởng tượng, cũng bắt đầu trông khốn khổ như là Michael. Nó đã bị xê dịch rất nhiều lần. Đoạn, cô cột tấm vải cũ vào xà nhà gần bếp lửa nhất và bắt Calcifer cúi đầu xuống để cô quét ống khói. Calcifer ghét lắm. Nó phá ra cười dã man khi Sophie phát hiện bồ hóng bay ra khắp phòng và cô lại phải lau chùi lại lần nữa. Đó là khuyết điểm của Sophie. Cô làm việc chuyên cần, nhưng không có hệ thống. Tuy nhiên có hệ thống trong sự chuyên cần của cô: cô tính toán là không thể quét dọn sạch sẽ ngôi nhà mà không thể sớm muộn khám phá kho tàng bí mật chất chứa đầy linh hồn, hoặc trái tim khô của các cô gái trẻ - hoặc một cái gì đó giải thích hợp đồng của Calcifer. Tuốt trên ống khói, được Calcifer canh gác, làm cô tưởng đó là một chỗ che giấu rất tốt. Nhưng không có gì ở trong, ngoài một số lượng lớn bồ hóng, mà Sophie đã hốt được thành chục bịch ở đằng sau vườn. Vườn sau chiếm vị trí cao trong danh sách những chỗ giấu đồ của Sophie.

Mỗi lần Howl bước vào nhà, Michael và Calcifer lớn tiếng than phiền về Sophie. Nhưng Howl dường như không để tâm tới. Cũng như anh không để ý gì đến sự sạch sẽ. Và anh cũng không thiết tha gì đến tủ thức ăn được chất ngăn nắp với bánh, mứt, và rau cải.

Bởi vì, như Michael đã tiên đoán, lời đồn đại đã loan khắp Porthaven. Mọi người ai cũng đến trước cửa đòi gặp Sophie. Mọi người gọi cô là Quý Bà Phù Thủy của Porthaven, hay là Phu Nhân Pháp Sư của Kingsbury. Lời đồn cũng loan tận kinh đô. Mặc dù người gõ cánh cửa Kingsbury ăn vận sang trọng hơn người ở Porthaven, không ai ở hai chỗ ấy muốn đến thăm một người có quyền phép cao siêu với hai bàn tay không. Vì thế Sophie lúc nào cũng phải ngừng làm việc để gật đầu, mỉm cười và nhận quà, hay để kêu Michael đi làm bùa chú nho nhỏ cho người ta. Một vài món quà rất dễ thương – tranh, dây chuyền vỏ sò, hay là tạp dề. Sophie dùng tạp dề mỗi ngày và treo dây chuyền vỏ sò, và tranh xung quanh không gian nhỏ của cô dưới cầu thang, và nơi ấy nhanh chóng có không khí như là nhà vậy.

Sophie biết mình sẽ nhớ nơi này khi Howl đuổi cô ra. Càng ngày cô càng sợ anh ta sẽ làm như thế. Anh chàng sẽ không thể lơ cô mãi mãi.

Kế đến cô tấn công phòng tắm. Việc này kéo dài vài ngày, bởi vì mỗi ngày Howl ở trong ấy lâu thật lâu trước khi ra khỏi nhà. Ngay khi anh rời khỏi, phòng vẫn còn đầy hơi nước và hương thơm, Sophie bước vào. “Bây giờ sẽ xem cái hợp đồng!” cô lầm bầm với cái bồn tắm, nhưng mục tiêu chính dĩ nhiên là cái kệ đầy túi giấy, chai, lọ, và ống. Cô lôi tất cả mọi thứ xuống, lấy cớ là chùi kệ, và ngồi cả ngày cẩn thận xem xét từng cái một để xem những lọ có tên DA, MẮT, và TÓC có phải thật là mảnh vụn của các cô gái không. Đến tận mức mà cô có thể thấy, chúng chỉ là kem, bột, và màu. Nếu chúng có thật là các cô gái, Sophie đoán Howl hẳn đã sử dụng ống PHÂN HỦY để làm thối rửa và giật chúng xuống dưới bồn nước và hoàn toàn không thể chấp nối lại. Nhưng cô hi vọng chỉ có chất mỹ phẩm trong những túi giấy.

Cô xếp những cái hộp lại trên kệ và bắt đầu kỳ cọ. Đêm đó, khi cô ngồi đau nhức trong cái ghế, Calcifer cằn nhằn là y đã phải rút cạn cả một suối nước nóng chỉ cho cô.

“Suối nước nóng ở đâu?” Sophie hỏi. Mấy ngày gần đây cô hay tò mò về tất cả mọi thứ.

“Hầu hết ở dưới đầm Porthaven Marshes,” Calcifer đáp. “Nhưng nếu bà cứ tiếp tục thế này, tôi sẽ phải lấy nước nóng từ vùng Hoang Phế. Chừng nào bà mới chịu ngừng quét dọn và tìm cách phá vỡ hợp đồng cho tui?”

“Từ từ rồi cũng đến mà,” Sophie trả lời. “Làm sao tôi hỏi Howl về hợp đồng nếu anh ta không khi nào ở đây? Bộ Howl bao giờ cũng đi như vậy hả?”

“Chỉ khi theo đuổi cô gái nào thôi,” Calcifer nói.

Khi phòng tắm được sạch sẽ và sáng bóng, Sophie chùi rửa cầu thang và bậc thềm trên lầu. Sau đó cô đi vào căn phòng nhỏ phía trước của Michael, cậu trai đến bây giờ đã ủ rũ chấp nhận Sophie như là một thảm họa tự nhiên, hét lên một tiếng hết can đảm, và chạy thùm thụp lên lầu để giải cứu món vật yêu nhất của cậu. Chúng nằm trong một hộp cũ kỹ dưới giường lủng lỗ chỗ bé xíu. Khi cậu nhanh chóng giựt cái hộp ra, Sophie thoáng thấy một dảy nơ xanh và hoa hồng đính trên xấp thơ.

“Vậy là Michael đã có người yêu rồi!” cô nói với mình khi mở toang cửa sổ ra – nó mở ra con đường ở Porthaven – và nhấc bộ chăn gối trải giường ra khoảng không bên ngoài cửa. Tính đến sự lắm chuyện dạo này của cô, Sophie ngạc nhiên là mình đã không hỏi Michael xem bạn gái cậu là ai và làm thế nào đã bảo vệ cô ta khỏi tay Howl.

Cô quét một số lượng bụi và rác khổng lồ từ phòng Michael đến mức Calcifer gần như bị ngộp thở khi cố đốt hết.

“Bà giết tui mất thôi! Đồ vô tâm y như Howl!” Calcifer sặc sụa, chỉ thấy mái tóc xanh lục và vầng trán xanh dương hiện ra.

Michael đặt hộp bảo tàng của cậu vào trong ngăn kéo bàn làm việc và khóa lại. “Ước gì Howl nghe lời chúng ta!” cậu nói. “Sao ảnh cưa cô này lâu quá vậy?”

Ngày hôm sau Sophie thử bắt đầu dọn cái sân sau. Nhưng trời mưa ở Porthaven hôm ấy, nước đập vào cửa sổ và rơi lộp độp vào trong ống khói, làm Calcifer rít lên khó chịu. Sân sau cũng là một phần của ngôi nhà ở Porthaven, nên nó cũng bị mưa như trút nước khi Sophie mở cửa. Cô đặt tạp dề qua đầu và lục lọi một chút, trước khi bị ướt như chuột lột, cô tìm thấy một cái thùng vôi trắng và cây chổi sơn lớn. Cô đem những thứ này vào nhà và sơn tường. Cô tìm thấy một cầu thang đứng cũ kỹ trong nhà kho và quét vôi trần nhà giữa mấy cây xà nhà luôn. Trời mưa suốt hai ngày ở Porthaven, dù khi Howl mở cửa với nút sơn màu xanh lục phía dưới, và bước ra ngoài đồi, bầu trời đầy nắng ấm, từng cụm bóng mây đuổi theo nhau qua đồng cỏ còn nhanh hơn là tòa lâu đài đang bước đi. Sophie tô trắng cái gian phòng nhỏ của cô, cầu thang, thềm nhà, và phòng của Michael.

“Chuyện gì xảy ra ở đây?” Howl hỏi khi anh trở về vào ngày thứ ba. “Mọi thứ dường như sáng hơn.”

“Sophie,” Michael kết tội.

“Tôi phải đoán nhiêu đó,” Howl nói khi anh biến mất trong phòng tắm.

“Ảnh để ý!” Michael thì thào với Calcifer. “Cô gái đó chắc đã bắt đầu chịu rồi!”

Trời vẫn mưa lắc rắc ở Porthaven vào ngày hôm sau. Sophie lấy vải cột tóc, xắn tay áo, và quấn cái tạp dề lên mình. Cô xách cây chổi sể, thùng nước, xà bông, và ngay khi Howl vừa bước khỏi cửa, cô bước đi như một thiên thần báo thù vào phòng ngủ của Howl.

Cô đã để dành phòng đó cuối cùng bởi vì cô e sợ những gì mình sẽ tìm thấy. Cô vẫn chưa dám ngó vào bên trong. Mặc dù điều đó thật ngốc nghếch, cô nghĩ khi đang lạch bạch đi lên cầu thang. Bây giờ rõ ràng là Calcifer làm hết mọi ma thuật mạnh mẽ trong lâu đài, và Michael làm mọi việc nhẹ, trong khi Howl lang thang đi cưa gái và lợi dụng hai nguời kia như là Fanny đã lợi dụng cô. Sophie chưa bao giờ xem Howl là đáng sợ. Bây giờ cô không thấy gì ngoài sự khinh thường.

Cô bước lên bậc thềm và nhìn thấy Howl đang đứng trong ngưỡng cửa của phòng anh. Anh đang lười biếng dựa người trên một tay, hoàn tòan chặn đường của cô.

“Ồ không, bà không được,” anh nói khá dịu dàng. “Tôi thích dơ bẩn, cám ơn.”

Sophie há hốc miệng. “Cậu từ đâu tới? Tôi thấy cậu đi rồi mà.”

“Tôi cho bà tưởng thế,” Howl đáp. “Bà đã hành hạ Calcifer và Michael tội nghiệp rồi. Thật dễ hiểu bà sẽ thăng đến chỗ tôi hôm nay. Và cho dù Calcifer có nói gì, tôi vẫn là một pháp sư. Bà không nghĩ là tôi có thể làm phép thuật sao?”

Câu nói đã làm hỏng tất cả ước tính của Sophie. Cô thà chết chứ không thú nhận. “Ai cũng biết cậu là pháp sư hết, cậu trẻ ạ,” cô nói gay gắt. “Nhưng như vậy cũng không thay đổi sự thật, lâu đài cậu là chỗ dơ bẩn nhất mà tôi từng thấy.” Cô nhìn ngó trộm vào trong phòng xuyên qua cổ tay áo màu xanh bạc đang đong đưa của Howl. Cái thảm trên sàn đầy rác như tổ chim. Cô thoáng thấy bức tường loang lỗ, và kệ đầy sách, một số trông rất lạ lùng. Không có dấu hiệu của đống tim bị nhai, nhưng chúng có thể bị dấu sau hoặc dưới cái giường khổng lồ bốn chân. Vài màn phía trên bị bụi bám xám hết và chúng ngăn không cho cô thấy cửa sổ nhìn ra cảnh gì bên ngoài.

Howl phất tay áo ra trước mặt cô. “Uh-uh. Đừng nhiều chuyện.”

“Tôi đâu có nhiều chuyện!” Sophie phản đối. “Căn phòng ..!”

“Bà có nhiều chuyện,” Howl đáp. “Bà rất đỗi nhiều chuyện, hách dịch khủng khiếp, sạch sẽ muốn điên. Tự kềm chế lại đi. Bà biến tất cả thành nạn nhân hết.”

“Nhưng nó là một cái chuồng heo,” Sophie nói. “Tôi không tránh được con người tôi vậy mà!”

“Bà tránh được,” Howl đáp. “Và tôi thích căn phòng của tôi như vậy. Bà phải công nhận là tôi có quyền sống trong chuồng heo nếu tôi thích. Bây giờ hãy xuống tầng dưới và kiếm chuyện khác làm. Làm ơn đi. Tôi ghét phải tranh cãi với người khác.”

Sophie không thể làm gì khác ngòai việc đi xách thùng nước đi xuống. Cô hơi run một chút nhưng rất ngạc nhiên thấy Howl không đuổi cô ra khỏi lâu đài ngay lúc ấy. Nhưng vì anh ta đã không làm vậy, cô nghĩ ngay lập tức đến việc tiếp theo phải làm. Cô mở cửa cạnh cầu thang, nhận ra cơn mưa lâm râm đã sắp chấm dứt, xông vào trong sân sau, nơi cô dùng hết sức kéo ra đống rác đang ướt mèm.

Tiếng kim loại kêu xoảng! và Howl xuất hiện lần nữa, loạng choạng, đứng trong khoảng giữa của đống sắt vụn mà Sophie sắp sửa dời qua một bên.

“Không được ở đây nữa,” anh nói. “Bà thật kinh khủng, biết không? Để cái sân sau này được yên. Tôi biết mọi thứ ở đâu trong chỗ này, và tôi sẽ không tìm được những thứ tôi cần cho phép thuật vận chuyển nếu bà dọn đi.”

Vậy có lẽ là có một đống linh hồn hay hộp tim đâu đó ngòai này, Sophie nghĩ. Cô có cảm giác như là bị đè bẹp. “Dọn dẹp là lý do tôi ở đây mà!” cô hét lên với Howl.

“Vậy bà phải nghĩ ra ý nghĩa mới cho đời bà,” Howl nói. Trong giây lát dường như anh ta cũng mất bình tĩnh luôn. Đôi mắt xanh nhạt kỳ lạ trừng trừng nhìn Sophie. Nhưng anh tự kềm chế và nói, “Bây giờ hãy đi vào trong nhà, bà già lộn xộn, và kiếm thứ khác chơi trước khi tôi nổi giận. Tôi ghét phải nổi giận.”

Sophie khoanh tay cánh gầy guộc lại. Cô không thích bị đôi mắt thủy tinh nhìn trừng. “Dĩ nhiên cậu ghét nổi giận!” cô trả treo. “Cậu không thích cái gì khó chịu hết, đúng không? Cậu như một con cá trạch, đúng vậy đó! Cậu trườn đi khỏi những thứ mà cậu không thích!”

Howl miễn cưỡng nở nụ cười. “Vậy thì,” anh nói. “Bây giờ hai ta đều biết khuyết điểm của đối phương. Hãy trở vào trong nhà. Đi. Bước.” Anh tiến lên trước Sophie, giơ tay khoác khoác cô đến trước cánh cửa. Tay áo trên cánh tay vẫy vẫy dính vào miếng sắt, kéo lại, và bị rách toang. “Khốn kiếp!” Howl nói, tay cầm hai mảnh tay áo xanh bạc. “Xem xem bà làm gì tôi nè!”

“Tôi khâu lại được,” Sophie nói.
Howl lại cho cô cái nhìn thủy tinh. “Lại nữa rồi,” anh nói. “Bà khoái hầu hạ người ta lắm sao!” Bàn tay phải anh nhẹ nhàng nắm tà áo và vuốt nhẹ. Hai mảnh vải xanh bạc rời khỏi ngón tay, không còn vết rách nữa. “Đó,” anh nói. “Hiểu chưa?”

Sophie bước tập tễnh trở vào trong nhà trong tình trạng bị ép buộc. Pháp sư rõ ràng không cần phải làm việc theo cách thông thường. Howl đã cho cô thấy anh không phải là một pháp sư có thể lờn mặt. “Tại sao cậu ta vẫn chưa đuổi ta đi?” cô nói, nửa cho mình, nửa cho Michael nghe.

“Cháu không biết,” Michael nói. “Nhưng cháu nghĩ anh ấy theo ý Calcifer. Hầu hết mọi người đến đây ai cũng hoặc là không để ý đến Calcifer hoặc là bị làm hoảng hốt.”


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 4:14 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 6
Howl thể hiện tình cảm bằng nhớt xanh

Howl không đi ra ngoài ngày hôm ấy, và những ngày tiếp theo. Sophie ngồi yên lặng trong cái ghế bên cạnh lò sưởi, tránh mặt anh ta và suy nghĩ. Cô nhận ra, dù rằng Howl rất đáng đời, cô đã trút cơn giận dữ với mụ Phù Thủy vùng Hoang Phế của mình vào trong tòa lâu đài. Và cô rất khó chịu vì đã phải ở lại đây trong sự lừa dối. Howl nghĩ là Calcifer thích cô, nhưng Sophie biết Calcifer chỉ đơn giản chộp lấy cơ hội trao đổi. Sophie nghĩ mình đã phụ lòng Calcifer.

Tình trạng này không kéo dài bao lâu. Sophie khám phá một đống quần áo của Michael cần phải được khâu vá. Cô lấy cái đê khâu, kéo, và chỉ trong túi áo ra và bắt tay vào làm việc. Buổi chiều hôm đó cô đã thấy vui hơn và cùng hòa ca bài hát ngốc nghếch về chảo chiên với Calcifer.

“Làm việc vui vẻ hả?” Howl hỏi mỉa mai.

“Tôi cần nhiều việc làm hơn,” Sophie nói.

“Bộ áo cũ của tôi cần vá lại, nếu bà thấy cần phải bận rộn,” Howl đáp.

Dường như là Howl đã không còn bực mình nữa. Sophie thấy nhẹ nhàng hơn. Cô gần như bị hoảng sợ buổi sáng hôm đó.

Rõ ràng là Howl vẫn chưa chinh phục được cô gái mà anh theo đuổi. Sophie lắng nghe Michael hỏi những câu thẳng thừng về chuyện đó, và Howl lườn lẹo qua chúng mà không trả lời câu nào. “Đúng là một kẻ trơn như lươn,” Sophie lẩm bẩm với đôi với của Michael. “Không thể đối diện với sự độc ác của mình.” Cô quan sát Howl bận rộn luôn tay luôn chân để che giấu sự không vui của mình. Đó là một chuyện mà cô có thể hiểu rõ được.

Ở bàn làm việc, Howl làm nhiều và nhanh hơn Michael gấp trăm lần, pha trộn bùa chú theo cách rất chuyên nghiệp và cẩu thả. Theo biểu hiện trên mặt Michael, hầu hết các thần chú đều khác thường và khó làm. Nhưng Howl rời bỏ công việc giữa chừng và phóng lên phòng mình để tìm kiếm vật giấu kín – và không nghi ngờ là một cái gì rất hiểm ác - ở trên đó, và rồi nhanh chóng vụt ra sân sau để chắp vá một lời chú khổng lồ. Sophie hé mở cửa, chưng hửng khi thấy vị pháp sư xinh đẹp đang quỳ trong bùn, hai tay áo dài cột lại trên cổ để không bị dơ, anh ta nâng một đống sắt dơ dáy để tạo thành hình khối đặc biệt.

Cái thần chú đó dành cho nhà vua. Lại một vị sứ giả ăn mặc cầu kỳ và thơm phưng phức đến, mang theo một chiếu chỉ và một diễn văn dài thật là dài, đại ý hỏi Howl có thể dành chút thời gian, không nghi ngờ gì đã được dành cho nhiều việc giá trị khác, để sử dụng trí óc mạnh mẽ và khéo léo của anh cho một vấn đề nhỏ mà Đức Hoàng Thượng Tối Cao vấp phải – đó là, làm sao để quân đội đẩy xe kéo nặng nề qua đầm lầy và các vùng đất gập gềnh. Câu trả lời của Howl cũng lịch thiệp và dài dòng phi thường. Anh nói không. Nhưng vị sứ giả thuyết phục thêm nửa tiếng đồng hồ nữa, cuối cùng cả hai cúi đầu chào nhau và Howl đồng ý làm thần chú.

“Đây là một điềm xấu,” Howl nói với Michael khi vị sứ giả ra đi. “Tại sao Suliman lại phải đi lạc trong vùng Hoang Phế làm chi? Đức Vua nghĩ rằng dùng ta thay vào cũng được kìa.”

“Nhìn theo kiểu nào, ông ấy cũng không có nhiều sáng kiến như anh,” Michael đáp.

“Mình quá kiên nhẫn và quá lịch sự,” Howl ủ rủ đáp. “Đáng lẽ nên chém đẹp ổng hơn.”

Howl cũng có từng ấy kiên nhẫn và lịch thiệp với khách hàng từ Porthaven, nhưng, như Michael lo lắng chỉ ra, vấn đề là Howl đã không tính tiền đủ cho những người này. Ấy là sau khi Howl đã lắng nghe khoảng một giờ đồng hồ những lý do khác nhau mà vợ một người đánh cá chưa thể trả anh một đồng xu, và rồi hứa với một thuyền trưởng sẽ làm bùa gió với giá gần như cho không. Howl lẩn tránh cuộc tranh cãi với Michael bằng cách dạy phép thuật cho cậu.

Sophie vừa khâu nút áo Michael vừa lắng nghe Howl chỉ dẫn. “Anh biết anh làm việc cẩu thả,” anh ta nói, “nhưng cậu không cần phải bắt chước như anh. Lúc đầu bao giờ cũng phải đọc thật cẩn thận. Hình dạng của nó sẽ nói với cậu rất nhiều, như là tự thỏa mãn, hay tự khám phá, hay chỉ là một lời chú đơn giản, hay là tổng hợp của hành động và lời chú. Khi cậu biết chắc nó là gì rồi, đọc kỹ lần nữa và quyết định xem phần nào là lời thật, phần nào là câu đố. Cậu đang học những phần cao hơn. Cậu sẽ thấy là tất cả thần chú cấp cao đều có ít nhất một lỗi hay bí ẩn rõ ràng để tránh hiểm họa. Cậu phải nhận ra những điều đó. Lấy thí dụ câu chú này…”

Lắng nghe những câu trả lời của Michael cho câu hỏi của Howl, và quan sát Howl ngoáy lời phê bình trên giấy bằng cây bút thần kỳ không hết mực, Sophie thấy mình cũng có thể học rất nhiều. Một ý nghĩ chợt lóe ra, nếu Martha có thể khám phá ra câu thần chú tráo đổi thân phận với Lettie tại nhà dì Fairfax, có thể cô cũng làm được như vậy ở đây. Nếu may mắn, cô sẽ không cần phải nhờ vả Calcifer nữa.

Khi Howl hài lòng là Michael đã hoàn toàn quên bẵng đi việc anh đã tính tiền ít hay nhiều cho những người ở Porthaven, anh kêu cậu ra ngoài sân sau để giúp đỡ tạo thần chú cho nhà vua. Sophie đứng dậy và lạch bạch đi đến chỗ làm việc. Câu thần chú thì rõ rồi, nhưng chữ viết của Howl làm cô chịu thua. “Chưa bao giờ thấy chữ như thế này!” cô lầm bầm với cái đầu lâu. “Tên đó cầm viết hay cầm chổi chà?” Cô hăng hái lục lọi mọi tờ giấy trong bàn làm việc và xem xét các loại chất lỏng và bột trong các hủ cong. “Được rồi, tôi thú nhận,” cô nói với đầu lâu. “Tôi lục lọi đó. Và đã nhận phần thưởng xứng đáng. Tôi có thể tìm thấy cách trị chim phá hoại, giảm ho, gọi gió, và nhổ sạch râu. Nếu Martha tìm ra toàn những thứ này thì nó hẵng còn ở nhà bà Fairfax.”

Theo Sophie thấy, Howl đi xem xét tất cả những thứ mà cô đã dời đi khi anh ta trở lại từ sân sau. Nhưng dường như đó chỉ là sự bồn chồn. Anh không biết phải làm gì sau đó. Sophie có thể nghe anh chàng trăn trở trên giường suốt đêm. Anh chỉ nán trong phòng tắm có một giờ vào sáng hôm sau. Anh dường như không thể dằn mình lại khi Michael mặc bộ áo nhung màu tím đẹp nhất, sẵn sàng đến hoàng cung ở Kingsbury, và cả hai gói thần chú lớn trong giấy gói màu vàng. Tuy có vẻ ngòai thế nhưng chắc chắn phải nhẹ. Michael cầm như không, hai tay ôm xung quanh chúng. Howl vặn núm cửa cho phần màu đỏ hướng xuống và đẩy cậu ra ngoài con đường có nhiều ngôi nhà sơn son đẹp đẽ.

“Họ đang trông đợi nó,” Howl nói. “Cậu chỉ chờ hết buổi sáng thôi. Nói với họ một đứa con nít cũng có thể làm được. Biểu diễn cho họ xem. Và khi cậu trở lại, tôi có thần chú cấp cao cho cậu làm. Vậy nhé.”

Anh đóng cửa lại và đi vòng vòng quanh phòng lần nữa. “Ngứa chân quá,” anh đột ngột nói. “Tôi đi dạo trên đồi đây. Nói với Michael câu thần chú để trên bàn làm việc đó nhé. Và cái này để cho bà bận rộn đây.”

Sophie thấy bộ quần áo xám đỏ, đẹp y như bộ xanh bạc, rơi từ không khí vào trong lòng mình. Trong khi đó, Howl lượm cây guitar khỏi góc tường, vặn cửa cho màu xanh lơ quay xuống, và bước ra cánh đồng thạch nam phía trên thị trấn Market Chipping.

“Chân hắn ngứa!” Calcifer cằn nhằn. Ở Porthaven đang có sương mù. Calcifer nằm thấp giữa những khúc củi, lách đầu này đầu kia để tránh nước từ ống khói nhỏ vào. “Vậy thì nghĩ coi tôi làm sao chứ, bị kẹt trong cái lò sưởi ẩm ướt như thế này?”

“Vậy thì cậu phải cho tôi ít nhất một gợi ý nào đó để hủy hợp đồng,” Sophie nói, tay giũ cái áo xám đỏ. “Chúa ơi, ngươi là một cái áo đẹp, ngay cả có hơi cũ! Được may để dụ con gái có phải không?”

“Tui đã cho bà gợi ý rồi!” Calcifer cháy xèo xèo.

“Vậy thì cậu phải cho tôi lại. Tôi không có hiểu,” Sophie nói vừa đặt áo xuống và lạch bạch đến cửa.

“Nếu tôi gợi ý cho bà, và nói với bà đó là gợi ý, nó sẽ trở thành tin tức, và tôi không được phép làm thôi,” Calcifer nói. “Bà đi đâu đó?”

“Làm một chuyện mà tui không dám, trừ khi cả hai bọn họ đều ra ngòai,” Sophie nói. Cô vặn cái nút cửa đến khi màu sơn đen chỉ xuống dưới. Rồi cô mở cửa.

Không có gì ở ngoài cả. Không phải đen, xám hay trắng. Không dày đặc, cũng không mỏng manh. Nó không chuyển động. Không mùi vị và không cảm giác. Khi Sophie cẩn thận đặt một ngón tay vào nó, nó không lạnh cũng không nóng. Dường như hư không. Nó hoàn toàn tuyệt đối không là gì.

“Gì thế này?” cô hỏi Calcifer.

Calcifer cũng ngạc nhiên như Sophie. Khuông mặt xanh dương nhòai ra ngòai bếp lửa để nhìn cánh cửa. Nó dường đã quên đi sương mù. “Tớ không biết,” hỏa yêu thì thầm. “Tớ chỉ bảo trì nó thôi. Bên ngoài lâu đài là nơi không ai có thể đi đến. Dường như xa xôi lắm.”

“Như là phía bên kia mặt trăng vậy!” Sophie nói. Cô đóng cửa và vặn nút màu xanh xuống. Cô lưỡng lự một phút và rồi bắt đầu lạch bạch lên cầu thang.

“Cửa khóa rồi,” Calcifer nói. “Howl kêu tôi nói lại với bà khi bà lại lục lần nữa.”

“Oh,” Sophie đáp. “Howl giấu cái gì ở trển thế?”

“Không biết nữa,” Calcifer trả lời. “Tôi không biết gì ở trên cầu thang. Nếu bà biết được như vậy khó chịu đến thế nào! Tôi cũng không thể thấy phía bên ngoài lâu đài. Chỉ đủ để coi hướng nào đi thôi.”

Sophie, cũng cảm thấy khó chịu như thế, ngồi xuống và bắt đầu sửa cái áo xám đỏ. Michael trở về ngay sau đó.

“Đức Vua gặp mặt cháu liền,” cậu nói. “Ngài..” Cậu nhìn quanh phòng. Mắt dừng lại ở góc phòng trống nơi cây guitar thường đứng đó. “Ồ không!” cậu nói. “Không phải lại cô gái đó nữa! Tôi tưởng cô ta đã thích ảnh và mọi việc đã xong xuôi mấy ngày trước rồi chứ. Sao cô này lâu quá vậy?”

Calcifer kêu xèo xèo hiểm ác. “Cậu nhầm rồi. Howl thấy cô này thuộc loại khó đổ đây. Hắn quyết định rời khỏi vài ngày xem sao. Vậy thôi.”

“Chết tiệt!” Michael nói. “Vậy là sẽ có rắc rối. Và tớ đang mong Howl trở lại bình thường!”

Sophie nện bộ quần áo xuống đầu gối. “Thiệt tình!” cô nói. “Không hiểu tại sao hai người lại có thể nói về một việc độc ác như thế! Ít nhất, tôi không thể trách Calcifer, vì cậu ta là ác quỷ. Nhưng cậu, Michael…!”

“Tôi không nghĩ là tôi ác,” Calcifer phản đối.

“Nhưng cháu đâu có bình thản! Nếu bà nghĩ vậy,” Michael đáp. “Nếu bà biết mọi rắc rối chúng cháu mắc phải chỉ bởi vì Howl cứ liên tục yêu đương như vậy! Chúng cháu có đơn kiện, có hôn thê cầm kiếm, mẹ cầm trục cán, và bố, chú cầm dùi cui. Và các bà dì. Các bà dì rất là khủng khiếp. Họ tấn công với kim mũ. Nhưng tệ nhất là chính mấy cô gái đó tìm thấy chỗ Howl ở và đến trước cửa, khóc lóc thảm thiết. Howl phải chạy trốn bằng cửa sau để lại Calcifer và cháu giải quyết mọi chuyện.”

“Tớ ghét mấy người khóc lóc,” Calcifer nói. “Nước mắt cứ nhỏ giọt trên mình tớ. Thà giận dữ còn hơn.”

“Nói thật đi nào,” Sophie nói, nắm chặt hai tay thành nắm đấm trong vải tơ đỏ. “Howl làm gì với các cô gái tội nghiệp đó? Tôi nghe nói cậu ta ăn tim và hớp hồn người ta.”

Michael cười bất an. “Vậy là bà phải đến từ Market Chipping rồi. Howl kêu cháu đến đó để bôi đen tên anh ấy khi bọn cháu vừa tới. Cháu – er – cháu kể mấy chuyện như vậy. Mấy bà dì hay nói vậy mà. Hiểu theo nghĩa khác thì nó cũng đúng.”

“Howl rất hay thay lòng đổi dạ,” Calcifer nói. “Hắn ta chỉ ưa ai đến khi cô gái đó thích hắn thôi. Rồi sau đó không thèm nhìn người ta nữa.”

“Nhưng anh ấy không thể ngừng đến khi chị đó cũng yêu.” Michael hăng tiết lên nói. “Ảnh không được bình thường cho đến lúc ấy. Cháu luôn trông cho đến khi cô gái thích ảnh. Mọi chuyện đều tốt hơn sau đó.”

“Cho đến khi họ lại tìm thấy cậu ta,” Calcifer chen vô.

“Sao cậu ta không nghĩ đến việc cho họ tên giả,” Sophie nói cay độc. Cay độc để giấu sự thật là cô cảm thấy mình có một chút khờ dại.

“Ồ, ảnh lúc nào cũng có mà,” Michael nói. “Ảnh thích đưa tên giả và ngụy trang làm người khác lắm. Ngay cả nếu không chạy theo bóng hồng nào. Bà không thấy ảnh là Thuật sĩ Jenkin ở Porthaven, Pháp sư Pendragon ở Kingsbury, và là Howl Hung Ác ở lâu đài sao?"

Sophie đã không để ý, và điều đó càng làm cô thấy mình ngốc nghếch hơn. Và ý nghĩ mình ngốc nghếch làm cô càng sôi gan. “Well, tôi vẫn nghĩ thật là độc ác, đi tán tỉnh các cô gái trẻ rồi lại bỏ người ta,” cô nói. “Thật vô tâm và vô tri.”

“Tên đó sinh ra là vậy rồi,” Calcifer nói.

Michael kéo cái ghế xếp nhỏ lại gần bếp lửa, ngồi cạnh Sophie khi cô đang thêu, và kể cho cô nghe những cuộc chinh phục của Howl và những rắc rối xảy ra sau đó. Sophie lầm bầm dưới cái áo. Cô cảm thấy rất ngu ngốc. “Vậy là mày ăn tim, phải không, áo? Tại sao mấy bà dì lại nói chuyện kỳ cục khi nói về cháu họ vậy chứ? Có lẽ họ cũng thích ngươi đó, áo đẹp ạ. Ngươi thấy thế nào nếu một bà dì chằn lửa chạy theo ngươi, eh?” Khi Michael kể về câu chuyện một bà dì mà cậu gặp, Sophie có thể thấy là nó y chang những lời đồn về Howl trong thị trấn Market Chipping. Cô có thể tưởng tượng một cô gái bướng bỉnh như Lettie, nếu không vì lời đồn đó, sẽ phải vướng vào lưới tình của Howl và trở nên đau khổ.

Michael vừa mới bày bàn ăn trưa, và Calcifer rên rỉ như thường lệ khi Howl bung cánh cửa ra và bước vào, có vẻ mất bình tĩnh hơn bất cứ lúc nào.

“Ăn gì không?” Sophie hỏi.

“Không,” Howl đáp. “Nước nóng trong phòng tắm, Calcifer.” Anh ta đứng ủ rũ trước cửa phòng tắm trong một giây. “Sophie, bà có dọn dẹp lại ngăn kệ thần chú trong này hay không?”

Sophie càng thấy ngu ngốc hơn bao giờ. Không gì có thể làm cô thú nhận là cô đã lục lọi tất cả các túi giấy, và chai lọ để tìm mảnh vụn các cô gái. “Tôi không có đụng tới cái gì hết,” cô làm bộ nghiêm túc trả lời và bước đi lấy cái chảo chiên.

“Cháu hi vọng bà nói thiệt,” Michael băn khoăn nói khi cánh cửa phòng tắm đóng sập lại.

Tiếng súc miệng và phun nước từ phòng tắm vang ra trong khi Sophie nấu cơm. “Hắn lại dùng rất nhiều nước nóng rồi,” Calcifer từ dưới chảo vọng lên. “Tôi nghĩ cậu ta đang nhuộm tóc. Mong là bà đã để yên mấy cái bùa tóc. Chỉ với một mái tóc bùn của một thằng con trai bình thường, mà Howl tự phụ về vẻ ngoài kinh lắm.”

“Ồ, im đi!” Sophie nạt. “Tôi đặt mọi thứ trở lại chỗ cũ hết rồi!” Cô bực mình đến nỗi đổ hết cả chảo trứng và thịt sấy vào trên mình Calcifer.

Calcifer, dĩ nhiên, nhiệt tình nuốt chửng và nghiến ngấu tất cả. Sophie lại phải chiên một chảo nữa trên ngọn lửa cháy bừng bừng. Cô và Michael ngồi ăn trưa với nhau. Khi họ đang dọn bàn, và Calcifer đang thè lưỡi xanh liếm làn môi tím, thì cánh cửa phòng tắm bật mở tung ra và Howl bật ra, la hét tuyệt vọng.

“Coi nè bà!” anh hét. “Hãy nhìn nè! Coi lực phá hoại của một bà già đã làm nên chuyện gì với mấy cái thần chú nè?”

Sophie và Michael quay lại và nhìn Howl. Tóc anh ướt đẫm, nhưng, ngòai ra, không ai trong bọn họ có thể nhìn thấy điều gì khác lạ.

“Nếu cậu nói tôi ..” Sophie bắt đầu.

“Tôi nói bà đó! Nhìn!” Howl rít lên. Anh ngồi thụp xuống trên cái ghế xếp và dùng ngón tay xọc vào mái tóc ướt. “Nhìn kỹ. Quan sát. Kiểm tra. Tóc tui đã bị hủy rồi! Tôi trông như cái chảo chiên thịt!”

Michael và Sophie cúi mình sát lại nhìn cái đầu Howl. Màu nâu vàng nhạt bình thường từ đầu đến ngọn tóc. Chỉ có một sự khác biệt có thể là một tí, tí ti, màu đỏ. Sophie thấy cũng tàm tạm. Nó gợi cho cô nhớ lại màu tóc cũ của cô.

“Tôi thấy rất được mà,” cô nói.

“Được!” Howl hét. “Bà biết! Bà cố tình làm vậy. Bà không thể nghỉ cho đến khi làm tôi khổ sở luôn chứ gì. Nhìn kỹ đi! Nó thành màu cam! Tôi sẽ phải trốn trong nhà cho đến khi tóc dài ra!” Anh dang hai tay ra mạnh mẽ. “Tuyệt vọng!” anh thét. “Đau khổ! Khủng khiếp!”

Căn phòng tối hẳn. Những cái bóng to lớn có hình dạng như con người trồi ra từ trong bốn góc tường và tiến dần đến Sophie và Michael, vừa đi vừa tru lên. Tiếng tru thoạt đầu như tiếng rên rỉ khủng khiếp, và tăng lên thành tiếng rít tuyệt vọng, rồi tăng dần thành tiếng thét đau đớn và hoảng hốt. Sophie đặt hai tay lên lỗ tai, nhưng tiếng thét xuyên qua tay cô, càng lúc càng lớn hơn, khủng khiếp hơn qua từng giây phút.

Calcifer nhanh chóng thụt xuống bếp lửa và chỉ dám le lói dưới đống củi. Michael chộp khủy tay Sophie và kéo cô ra ngoài cửa. Cậu ta quay màu xanh dương xuống, đá cửa ra, và nhanh chóng lôi cả hai vào con đường trong Porthaven.

Âm thanh trong nhà nghe vẫn đinh tai nhức óc ở ngoài đường. Cánh cửa hai bên đường mở toang ra và mọi người chạy ra khỏi nhà hai tay ôm chặt đôi tai.

“Mình có nên bỏ cậu ta như vậy không?” Sophie run rẩy hỏi.

“Nên,” Michael đáp. “Nhất là khi anh ấy nghĩ là bà có lỗi, nhất định.”

Họ chạy xa về phía thị trấn, những tiếng thét đuổi theo. Một đám đông cũng chạy theo họ. Bất chấp làn sương mù hiện đã rỉ rả thành cơn mưa phùng mằn mặn, mọi người đều chạy đến bến cảng hay bãi biển, nơi tiếng ồn trở nên dễ chịu hơn một chút. Từng nhóm người túm tụm lại, nhìn vào sương trắng ở cuối đường chân trời, và dây neo tàu buông xuống trong khi tiếng ồn trở nên tiếng khóc nức nở, đau thương. Sophie lần đầu tiên được nhìn biển gần như thế. Tiếc thay cô không thể thưởng thức phong cảnh.

Tiếng nức nở lặng đi thành tiếng thở dài lớn, thảm sầu và rồi yên lặng hẳn. Mọi người bắt đầu thận trọng quay trở về thị trấn. Một vài người rụt rè đến gần Sophie.

“Có chuyện gì với Pháp sư đáng thương sao, bà phù thủy?”

“Ông ấy chỉ hơi buồn hôm nay thôi,” Michale đáp. “Thôi nào. Tôi nghĩ chúng ta có thể trở về được rồi.”

Khi họ đi dọc theo dãy đá gần bến cảng, một vài thủy thủ lo âu gọi với lên từ neo tàu, muốn biết nếu tiếng ồn đó là dấu hiệu trời bão hay điềm xấu nào.

“Không phải đâu,” Sophie đáp trả lại. “Giờ nó hết rồi.”

Nhưng không phải vậy. Họ trở về ngôi nhà phù thủy, một căn nhà xiêu vẹo nhỏ bé đến mức Sophie không thể nhận ra nó nếu Michael không ở bên cạnh. Michael khá thận trọng mở cánh cửa nhỏ. Bên trong, Howl vẫn ngồi trên ghế xếp trong tư thế hoàn toàn tuyệt vọng. Và thân hình bị một lớp nhớt nhầy nhụa màu xanh bao phủ.

Đó là một số lượng nước nhớt kinh khủng, mạnh mẽ, dữ dội – nhiều vô vàn. Nó phủ kín người Howl. Từng cục nhớt nhớp nháp che phủ đầu và vai anh, thành đống trên chân tay, nhỏ thành từng cục xuống chân, và tràn xuống ghế xếp thành từng cọng dài. Khắp sàn nhà là những ao nhớt sùng sục. Ngón tay dài của chúng lần mò vào trong bếp lửa. Mùi hôi khủng khiếp.

“Cứu tôi với!” Calcifer hét giọng khàn khàn nhỏ xíu. Cậu ta chỉ còn lại hai ngọn lửa leo lét. “Cái thứ này sẽ dập tắt tôi mất!”

Sophie kéo váy lên và cố hết sức chạy đến gần Howl - có nghĩa là không gần lắm. “Ngừng lại!” cô nói. “Ngừng lại ngay! Cậu cư xử như em bé vậy đó!”

Howl không xê dịch hay trả lời gì cả. Đôi mắt to tròn nhìn từ đằng sau lớp nhớt, trắng bệch, thuơng tâm.

“Mình làm gì bây giờ? Anh ấy chết rồi sao?” Michael hỏi, hốt hoảng núp sau cánh cửa.

Michael là một cậu bé tốt, Sophie nghĩ, nhưng chả giúp gì được trong cơn nguy khốn cả. “Không, tất nhiên là không,” cô nói. “Và nếu không phải vì Calcifer, cậu ta có thể làm như con lươn cả ngày coi tôi có quan tâm không! Mở cửa phòng tắm nào.”

Trong lúc Michael lần mò giữa đống nhớt để đi đến phòng tắm, Sophie quẳng tạp dề của mình vào trong bếp lò để chặn không cho chúng đến gần Calcifer và chộp lấy cái xuổng. Cô xúc một đống tro và đổ chúng vào trong đống nhớt. Nó rít lên xèo xèo dữ dội. Căn phòng phủ đầy hơi nước và hôi hơn bao giờ hết. Sophie xắn tay áo lên, cúi người xuống để nắm chặt hai đầu gối đầy nhớt của vị pháp sư, và đẩy Howl, vẫn ngồi trên ghế xếp, tới phòng tắm. Chân cô trượt trong đống nhớt, nhưng dĩ nhiên sự trơn tru giúp đẩy cái ghế đi. Michael tới và phụ kéo tay áo đầy nhớt của Howl. Hai người cùng nhau đẩy Howl vào trong phòng tắm. Ở đó, bởi vì vẫn không chịu đứng dậy, họ nhấc anh vào trong bồn.

“Nước nóng, Calcifer!” Sophie thở hồng hộc kêu lên. “Rất nóng.”

Phải mất một giờ mới gột rửa cho hết chất nhờn ra khỏi mình Howl. Michael phải mất một tiếng nữa mới thuyết phục được Howl bước ra khỏi bồn và mặc áo khô vào. May mắn bộ xám đỏ mà Sophie vừa mới vá lại đã được vắt ngang vai ghế bành nên không hề hấn gì. Bộ áo xanh bạc không may mắn thế. Sophie bảo Michael ngâm nó vào bồn tắm để ra nhớt. Trong khi ấy, cô vừa càu nhàu vừa lấy thêm nước. Cô vặn nút màu xanh lơ xuống và quét đống nhớt ra ngòai cánh đồng thạch nam. Tòa lâu đài để lại dấu trên đường đi như con ốc sên, nhưng đó là cách dễ nhất để đổ bỏ đống bầy nhầy. Sống trong lâu đài biết di chuyển cũng có lợi đó chứ, Sophie nghĩ khi lau chùi sàn nhà. Cô không biết nếu tiếng ồn ào của Howl có thấu qua lâu đài không. Nếu có thì thật tội nghiệp cho người dân ở Market Chipping.

Vào lúc này Sophie vừa mệt vừa tức. Cô biết đống nhớt xanh là do Howl muốn trả thù cô, và cô không sẵn sàng để thông cảm khi Michael dìu Howl từ phòng tắm ra, bận bộ áo xám đỏ, và nhẹ nhàng đặt anh vào trong chiếc ghế bành cạnh bếp lửa.

“Thật là ngu ngốc hết sức!” Calcifer phun phì phì. “Bộ cậu muốn hủy đi phần mạnh nhất của phép thuật cậu hay sao?”

Howl không màng đến. Anh chỉ ngồi đó, thẫn thờ và run rẩy.

“Cháu không làm cho ảnh nói được!” Michael đau khổ thì thầm.

“Chỉ là giận lẫy thôi mà,” Sophie nói. Martha và Lettie cũng hay giận lẫy lắm. Cô biết cách xử sự ra sao với chúng. Mặt khác, sẽ khá liều lĩnh nếu đét đít một vị pháp sư vì đã quá kích động về mái tóc của mình. Dù sao đi nữa, kinh nghiệm cho Sophie biết những cơn giận lẫy ít khi về những gì ta thoạt thấy. Cô bảo Calcifer xích qua để đặt lọ sữa lên bếp. Khi sữa ấm, cô ấn cốc sữa vào tay Howl. “Uống đi,” cô nói. “Chuyện gì mà làm ầm ĩ lên thế? Có phải về cô gái mà cậu hay đi thăm không?”

Howl nhấp từng giọt vẻ sầu thảm. “Vâng,” anh nói. “Tôi rời xa để xem em có nhớ tôi hay không, và em không hề. Em đã không chắc, ngay cả vào lần cuối tôi gặp. Bây giờ em nói với tôi là có chàng khác.”

Howl nói vẻ đáng thương đến nỗi Sophie cảm thấy rất tội nghiệp. Bây giờ tóc anh chàng đã khô, cô để ý với vẻ có lỗi, nó gần như là màu hồng.\

“Em là người con gái đẹp nhất là mà tôi gặp trong vùng này,” Howl tiếp tục than khóc. “Tôi yêu em rất nhiều, nhưng em không màng đến sự tận tụy của tôi mà lại tội nghiệp cho gã kia. Sao em lại có người khác khi tôi chú tâm đến em như vậy? Mấy em khác bỏ rơi người kia ngay khi có tôi mà.”


Lòng thương cảm của Sophie nhanh chóng thu nhỏ lại. Cô nghĩ ra nếu Howl có thể dễ dàng tạo ra nhớt xanh để bao trùm mình, thì anh cũng có thể dễ dàng đổi màu tóc lại như cũ. “Vậy tại sao cậu lại không cho cô ta một cái bùa yêu cho rồi?” cô nói.

“Không,” Howl đáp. “Như vậy là chơi không công bằng. Còn gì vui nữa chứ?”

Lòng thương cảm của Sophie lại nhỏ hơn chút nữa. Một trò chơi, nhỉ? “Cậu không bao giờ nghĩ tới cô gái đó sao?” cô nạt.

Howl uống hết sữa và nhìn vào cốc với nụ cười mê mẩn. “Tôi luôn luôn nghĩ về em,” anh nói. “Lettie Hatter đáng yêu, đáng mến.”

Lòng thương của Sophie hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là sự lo lắng hãi hùng. Oh, Martha! Cô nghĩ. Em thật là bận rộn! Vậy là em đã không nói đến ai trong Cesari’s.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 4:17 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 7
Có chú bù nhìn không cho Sophie rời khỏi lâu đài


Chỉ có một cơn đau nhức dữ dội mới ngăn được Sophie đi đến Market Chipping vào buổi chiều hôm ấy. Nhưng cơn mưa dầm dề ở Porthaven đã tác động lên chứng phong thấp của Sophie. Cô nằm trong cái ổ của mình, nhức nhối, và lo lắng về Martha. Có thể cũng không sao đâu, cô nghĩ. Cô chỉ cần nói cho Martha là người con trai mà cô gặp không ai khác hơn chính là Pháp sư Howl. Nhiêu đó sẽ làm Martha sợ. Và cô sẽ cho Martha biết cách duy nhất xua đuổi Howl là tuyên bố cô đã yêu thích anh chàng rồi, và có lẽ hăm dọa về mấy bà dì.

Xương cốt Sophie vẫn còn kêu răng rắc khi thức dậy vào sáng hôm sau. “Bà Phù Thủy vùng Hoang Phế chết dẫm!” cô lầm bầm với cây gậy khi cô bước ra, sẵn sàng ra đi. Cô nghe Howl hát trong phòng tắm cứ như là chưa một lần giận lẫy trong đời. Cô nhanh nhẹn nhón chân và bước khập khễnh đến trước cửa.

Howl dĩ nhiên chạy ra khỏi phòng tắm trước khi cô đạt được mục tiêu. Sophie gay gắt nhìn anh. Anh chàng ăn diện thật chải chuốt, bảnh bao, mùi thơm hoa táo tỏa ra nhè nhẹ. Ánh nắng hắt ra từ cửa sổ tỏa lấp lánh trên bộ áo xám đỏ và phản chiếu một vòng sáng màu hồng trên tóc.

“Tôi nghĩ màu tóc này cũng đẹp chứ,” anh nói.

“Thiệt sao?” Sophie trả lời cục cằn.

“Hợp với bộ áo này,” Howl đáp. “Bà cũng khéo may vá quá chứ. Bà làm bộ này đẹp hơn sao đó.”

“Huh!” Sophie nói.

Howl ngừng lại với tay trên nắm cửa. “Bộ bà đau nhức lắm hả?” anh hỏi. “Hay có gì khác làm bà bực?”

“Bực?” Sophie đáp. “Tôi mà bực ấy à? Có người vừa mới làm ngập lâu đài với nhựa tùng hương, làm đinh tai nhức óc mọi người trong Porthaven, hù Calcifer thành tro bụi, và làm tan nát hàng trăm trái tim. Tại sao những điều đó lại làm tôi bực chứ?”

Howl cười. “Tôi xin lỗi,” anh nói, vặn nút màu đỏ xuống. “Đức Vua muốn gặp tôi hôm nay. Có lẽ phải ở trong cung điện đến chiều, nhưng tôi có thể làm gì đó cho bệnh phong thấp của bà khi trở về. Đừng quên bảo Michael tôi để thần chú trên bàn cho nó nha.” Anh ta nở cười rực rỡ với Sophie rồi bước ra con đường hoa lệ ở Kingsbury.

“Cậu nghĩ như vậy là xong hả!” Sophie gầm gừ khi cánh cửa đóng lại. Nhưng nụ cười đã làm cô nguôi giận. “Nếu nụ cười đó mà còn làm mình xiêu lòng thì chẳng trách Martha phải mất lý trí!” cô lầm bầm.

“Tôi cần một khúc củi nữa nếu bà phải đi,” Calcifer nhắc nhở.

Sophie lạch bạch đặt một khúc củi vào lò. Rồi cô lại bước đến cửa lần nữa. Nhưng lần này Michael chạy xộc thẳng xuống cầu thang, và chộp lấy khúc bánh mì cuối cùng trên ghế và chạy ra cửa. “Bà không ngại chứ?” cậu khích động hỏi. “Cháu sẽ mang bánh mì mới khi trở về. Cháu có việc rất vội phải đi hôm nay, nhưng cháu sẽ về vào buổi chiều. Nếu viên thuyền trưởng đến lấy cái bùa gió, cháu để nó cuối bàn làm việc đó, có dán nhãn hết rồi.” Cậu vặn nút màu xanh lơ xuống và nhảy ra cánh đồng đầy gió bên ngoài, bánh mì xiết chặt trên tay. “Chào bà!” cậu la to khi tòa lâu đài lặc lè bước đi và cánh cửa đóng sập lại.

“Chết tiệt!” Sophie nói. “Calcifer, làm sao mà mở cửa khi không có ai bên trong lâu đài?”

“Tôi sẽ mở cửa cho bà, hoặc Michael. Howl tự mở được,” Calcifer đáp.

Vậy sẽ không ai bị khóa ngoài khi Sophie đi khỏi. Cô không chắc là mình sẽ quay lại, nhưng cô không muốn nói với Calcifer. Cô đợi Michael một lúc để cậu đi nơi nào mà cậu muốn đi rồi bước đến cửa lần nữa. Lần này Calcifer gọi cô.

“Nếu bà phải đi lâu,” hỏa yêu nói, “xếp mấy khúc củi lại gần đây để tôi có thể với tới.”

“Cậu tự lấy được sao?” Sophie hỏi, hiếu kỳ mặc dù đang mất kiên nhẫn.

Để trả lời, Calcifer vươn ngọn lửa xanh có hình dạng như cánh tay và ở đầu tay chĩa ra làm hai. Trông không dài, cũng không mạnh. “Thấy chưa? Tôi gần với được tới bậc thềm luôn,” cậu ta nói tự hào.

Sophie xếp củi thành một đống ngay trước bép để Calcifer có thể ít nhất lấy được câu củi trên cùng. “Cậu sẽ không đốt cho đến khi đem nó vào trong bếp,” cô cảnh cáo, và lại bước đến cửa nữa.

Lần này có người gõ cộc cộc trước khi cô đến gần.

Ngày gì mà kì cục, Sophie nghĩ. Chắc đó là vị thuyền trưởng. Cô đưa tay toan vặn nút xanh dương xuống.

“Không phải cửa kinh thành,” Calcifer nói. “Tớ không chắc ...”

Vậy chắc là Michael quay trở lại, Sophie nghĩ khi cô mở cửa. Một khuôn mặt củ cải lăm lăm nhìn cô. Cô ngửi thấy mùi mốc. Nổi bật trong bầu trời bao la, một cánh tay rách nát với hai cây gậy thò ra, quay vòng vòng và cố chụp lấy cô. Đó là một con bù nhìn. Làm bằng gậy và vải vụn, nhưng nó biết đi, và đang cố chui vào lâu đài.

“Calcifer!” Sophie hét lên. “Cho lâu đài chạy nhanh lên!”

Khối đá xung quanh cửa nghiến vào nhau răng rắc, kèn kẹt. Cánh tay con bù nhìn đập lên cửa, và chà lên bước tường khi tòa lâu đài bỏ nó lại đằng sau. Nó quay cánh tay kia lại và dường như đang cố níu lấy tường đá. Nó muốn bước vào lâu đài.

Sophie đóng sập cửa lại. Cái này, Sophie nghĩ, cho thấy việc người chị cả đi tìm vận may thì ngu ngốc như thế nào! Đó là con bù nhìn cô đã kéo ra từ bụi cây trên đường đến lâu đài. Cô đã nói đùa với nó. Bây giờ, cứ như là câu nói đùa của cô đã đem lại sự sống cho con quái vật, nó đã theo chân cô đến đây và muốn cào vào mặt cô.

Dĩ nhiên, tất cả những gì cô có thể nhìn thấy là một ngày nắng đẹp ở Porthaven, hàng chục cánh buồm giương lên phía xa những mái nhà đối diện, và một đàn chim hải âu bay lượn trên trời.

“Đó là sự bất tiện của việc một lúc ở nhiều chỗ!” Sophie nói với cái đầu lâu trên bàn làm việc.

Rồi, ngay lập tức, cô khám phá ra cái bất lợi thật sự của việc trở thành bà già. Tim cô nhảy vọt lên, ngưng một chút, và rồi nện thật mạnh như muốn nhảy xổ ra khỏi lồng ngực. Đau. Cả người cô run lẩy bẩy và đầu gối nhũn xuống. Cô tưởng là mình sắp chết nơi. Cô chỉ có thể lết thân mình đến cái ghế cạnh lò sửa. Cô ngồi đó thở khó nhọc, tay nắm chặt lồng ngực.

“Có việc gì hả bà?” Calcifer hỏi.

“Phải. Tim tôi. Có một con bù nhìn ở ngoài cửa!” Sophie thở hồng hộc.

“Con bù nhìn thì có liên quan gì với tim bà?” Calcifer hỏi.

“Nó muốn đi vào đây. Nó làm tôi sợ muốn chết. Và tim tôi – nhưng ngươi không hiểu đâu, cậu hỏa yêu trẻ tuổi ạ!” Sophie hổn hển. “Cậu đâu có tim.”

“Tôi có chứ,” Calcifer tự hào như khi khoe cánh tay. “Phía dưới phần tia sáng dưới đám củi. Và đừng kêu tui trẻ. Tôi già hơn bà cả triệu triệu năm! Tôi có thể cho lâu đài chạy chậm lại chứ?”

“Chỉ khi nào con bù nhìn không có ở đó nữa,” Sophie nói. “Nó đi chưa?”

“Không biết,” Calcifer trả lời. “Nó đâu có máu thịt. Tôi đã bảo là tôi không thể thấy cảnh ngoài lâu đài.”

Sophie đứng dậy và lê người đến thềm lần nữa, người muốn bệnh. Cô thận trọng hé mở cánh cửa. Dãy đồi xanh xanh, đá, và dốc thoai thoải lướt qua nhanh, làm cô chóng mặt, nhưng cô níu chặt khung và nhoài người ra ngoài để nhìn cảnh vật dọc bức tường mà họ đã chạy qua. Con bù nhìn chỉ khoảng trăm bước chân đằng sau. Nó nhảy từ bụi cây này sang bụi cây khác với vẻ quyết tâm đầy hiểm ác, giữ hai cánh tay gậy nghiêng nghiêng để giữ thăng bằng trên triền đồi. Sophie thấy tòa lâu đài lại chạy xa nó hơn. Con bù nhìn tiến chậm, nhưng nó vẫn nhảy theo. Cô đóng cửa.

“Nó vẫn ngòai đó,” cô nói. “Nhảy theo chúng ta. Hãy nhanh hơn nữa.”

“Nhưng nó sẽ làm rối tính toán của tôi hết,” Calcifer giải thích. “Tôi tính chạy quanh mấy quả đồi và trở lại nơi Michael rời khỏi để đón cậu ta vào buổi chiều.”

“Vậy thì hãy chạy nhanh gấp đôi và đi vòng quanh đồi hai lần. Chỉ cần cậu bỏ cái vật khủng khiếp đằng sau!” Sophie nói.

“Thật rắc rối!” Calcifer càu nhàu. Nhưng cậu ta tăng tốc độ cho lâu đài. Lần đầu tiên Sophie có thể nghe thấy tiếng ầm ầm quanh cô khi cô ngồi trong ghế không biết mình sắp chết chưa. Cô chưa muốn chết, trước khi gặp Martha.

Thời gian tiếp tục trôi qua, mọi thứ trong lâu đài bắt đầu run run. Chai lọ cụng nhau. Đầu lâu khua lộp cộp trên bàn. Sophie có thể nghe tiếng đồ vật rơi loảng xoảng xuống kệ trong phòng tắm và đổ vào cái bồn nước ngâm chiếc áo xanh bạc của Howl. Cô bắt đầu thấy khỏe hơn một chút. Cô lại lê thân ra cửa lần nữa và nhìn ra ngoài, mái tóc bạc bay trong gió. Mặt đất lướt nhanh dưới chân. Những ngọn đồi hoang dường như quay vòng vòng khi tòa lâu đài chạy quanh chúng. Tiếng rền vang và kẽo kẹt điếc cả lỗ tai, và khói đen phun ra mù mịt khắp nơi. Nhưng con bù nhìn chỉ là một chấm đen ở sườn đồi xa thật xa. Lần nhìn tiếp theo, nó hoàn toàn biến mất.

“Tốt. Vậy tôi sẽ nghỉ ngơi cho đêm nay,” Calcifer nói. “Thật là mệt.”

Tiếng ầm ngưng lại. Mọi vật không run nữa. Calcifer đi ngủ, theo cách của một ngọn lửa, chìm sâu trong củi cho đến khi còn một màu hồng giữa tro tàn, chỉ có một chút xanh leo lét ở phía dưới.

Sophie lại thấy hoạt bát trở lại. Cô đi lượm sáu túi giấy và chai lọ ra khỏi bồn nước nhớt trong phòng tắm. Túi giấy đã ướt sũng. Cô không dám bỏ chúng lại chỗ cũ như vậy sau sự kiện ngày hôm qua, nên cô đặt chúng lên sàn và, rất cẩn thận, rắc một chút BỘT SẤY KHÔ lên. Ngay lập tức các bịch giấy khô ráo. Điều này làm cô phấn khởi. Cô đổ nước ra khỏi bồn và rắc chút bột lên áo của Howl. Nó cũng khô luôn. Nó có màu xanh lục và hơi nhỏ hơn bình thường, nhưng Sophie vui lên vì cô đã ít nhất làm được một việc đúng.

Cô thấy khá hơn và đi chuẩn bị bữa tối. Cô gom tất cả mọi thứ trên bàn làm việc qua một bên cạnh cái đầu lâu, và bắt đầu thái hành. “Ít nhất là mắt cậu không phải chảy nước, bạn hiền,” cô nói với nó. “Hãy tạ ơn trời.”

Cánh cửa bật mở ra.

Sophie hoảng sợ đến nỗi gần như cắt dao vào tay, tưởng là con bù nhìn nữa. Nhưng đó là Michael. Cậu bé hân hoan tung cửa bước vào. Cậu đặt một ổ bánh mì, bánh nướng, và một hộp viền hồng trắng lên trên đống hành. Rồi cậu ôm choàng Sophie và dìu cô nhảy quanh phòng.

“Ổn cả rồi! Ổn cả rồi!” cậu vui vẻ la lên.

Sophie nhảy loạng choạng để tránh đôi giày của Michael giẫm lên. “Từ từ, từ từ nào!” cô thở hổn hển, loạng choạng cố giữ con dao để không đâm hai người. “Cái gì ổn chứ?”

“Lettie yêu cháu!” Michael hét lên, vừa nhảy với cô gần như vào phòng tắm, và rồi đến lò sưởi. “Cô ấy chưa từng nhìn thấy Howl! Chỉ là một sự hiểu lầm!” Cậu xoay hai người ở chính giữa phòng.

“Cậu có thể buông tôi ra trước con dao này đâm vào tay không!” Sophie quát. “Và giải thích rõ một chút đi.”

“Wee-oop!” Michael hét. Cậu quay Sophie một vòng vào trong ghế và đẩy cô vào đó, ngồi thở hồng hộc.

"Tối hôm qua cháu đã mong bà nhuộm tóc anh ấy màu xanh!” cậu nói. “Giờ thì đã không sao. Khi Howl nói ‘Lettie Hatter.’ Cháu còn tưởng sẽ tự tay cháu nhuộm luôn. Bà đã nghe ảnh nói chuyện rồi đó. Cháu biết ảnh sẽ bỏ cô ấy, như những cô gái khác, ngay lập tức khi cổ thích ảnh. Và khi nghĩ đó là Lettie của cháu, cháu… Mà thôi, bà biết ảnh nói có một người con trai khác, và cháu tưởng đó là cháu! Nên cháu phải chạy xuống Market Chipping hôm nay. Và mọi chuyện đều ổn thỏa! Howl hẳn phải theo đuổi một cô gái khác cùng tên. Lettie của cháu chưa từng trông thấy anh ấy.”

“Hãy nói rõ xem nào,” Sophie chóng mặt hỏi. “Chúng ta đang nói về cô Lettie Hatter làm trong tiệm bánh ngọt Cesari phải không?”

“Tất nhiên rồi!” Michael hồn nhiên nói. “Cháu đã mến cô ấy từ khi cổ bắt đầu làm việc ở đó, và cháu gần như không tin mình khi cô nói cổ cũng mến cháu. Cô ấy có hàng trăm cây si. Cháu sẽ không ngạc nhiên nếu Howl là một trong những người đó. Nhẹ cả người! Cháu có đem bánh ngọt về cho bà để ăn mừng nè. Cháu để đâu rồi? À đây.”

Cậu dúi cái hộp màu hồng trắng vào tay Sophie. Hành rơi lả tả trên áo cô.

“Cháu mấy tuổi rồi, cậu bé?” Sophie hỏi.

“Mười lăm vào ngày lễ May Day,” Michael nói. “Calcifer bắn pháo bông trên lâu đài. Phải không, Calcifer? Ồ, ngủ rồi à. Có lẽ bà nghĩ cháu còn quá trẻ để hứa hôn – cháu còn phải thực tập trong ba năm nữa, và Lettie còn lâu hơn – nhưng chúng cháu đã hứa với nhau, và tụi cháu không ngại phải chờ đợi.”

Vậy là Michael cũng bằng tuổi Martha, Sophie nghĩ. Và cô biết rằng cậu bé dễ thương, đáng tin cậy với nghề pháp sư trong tương lai. Chúc mừng cho Martha! Khi nghĩ về cái ngày May Day rắc rồi đó, cô nhận ra có lẽ Michael ở trong đám người la hét trong tiệm chỗ quầy tính tiền của Martha. Nhưng Howl vẫn ở ngòai quảng trường.

“Cậu có chắc Lettie nói sự thật về Howl hay không?” cô băn khoăn hỏi.

“Chắc chắn,” Michael nói. “Cháu biết khi cô ấy nói dối. Ngón tay cổ không có xoay tròn.”

“Có chứ sao không!” Sophie đáp, cười thầm.

“Sao bà biết được?” Michael ngạc nhiên hỏi.

“Bởi vì đó là em … er.. cháu của em gái tôi,” Sophie đáp, “và khi còn nhỏ nó không phải lúc nào cũng thật thà đâu. Nhưng nó vẫn còn trẻ và … er … Well, có thể nói rằng càng lớn càng khác đi. Nó – er – một hai năm nữa có thể không giống như bây giờ.”

“Thì cháu cũng vậy,” Michael nói. “Mấy người cùng lứa với cháu đổi hoài hà. Có gì đâu mà lo. Cổ vẫn là Lettie thôi.”

Có thể cho là vậy, Sophie nghĩ. “Nhưng cứ coi là nó nói sự thật đi,” cô băn khoăn nói, “và chỉ biết Howl dưới tên khác làm sao?”

“Đừng lo, cháu đã nghĩ đến đó rồi!” Michael đáp. “Cháu tả Howl – bà phải công nhận là ảnh dễ nhận ra lắm – và cô ấy vẫn chưa hề thấy ảnh hay cây guitar chết dẫm đó. Cháu không cần phải nói là ảnh không biết chơi đàn. Em ấy chưa từng nhìn thấy ảnh và ngón tay cái em quay quay khi nói điều đó.”

“Vậy là quá tốt!” Sophie nói, nằm ngửa ra trên ghế. Và đó là một điều tốt cho Martha. Nhưng cũng không hẳn là tốt, bởi vì Sophie chắc chắn là cô Lettie Hatter kia chính là người thật. Nếu còn có một người nữa, người ta hẳn đã vào trong tiệm nón và bàn tán về chuyện đó. Có lẽ là Lettie bướng bỉnh đã không chịu ngã lòng với Howl. Điều làm Sophie lo lắng là Lettie đã cho Howl biết tên thật của mình. Cô bé đã không chắc chắn về tình cảm của mình với Howl, nhưng cô đủ thích để tin tưởng thổ lộ cho Howl một bí mật quan trọng như thế.

“Đừng có vẻ lo lắng vậy mà!” Michael cười, người dựa vào lưng ghế. “Xem cái bánh cháu mang cho bà đi.”

Sophie bắt đầu mở cái hộp quà ra, ý nghĩ chợt đến với cô là Michael đã từ chỗ xem cô là một tai họa bây giờ bắt đầu thích cô rồi. Cô vui mừng và biết ơn đến độ cô quyết định nói cho Michael nghe sự thật về Lettie và Martha và bản thân cô nữa. Thật là hợp lý để cho cậu ấy biết về gia đình mà cậu sẽ làm một thành viên trong tương lai. Cái hộp mở ra. Bên trong là cái bánh ngon nhất của Cesari, trang trí bằng kem, dâu, và một tí chocolate. “Oh!” Sophie kêu lên.

Cái vặn cửa tự động chuyển xuống màu đỏ, và Howl bước vào. “Thật là một cái bánh tuyệt vời! Món thích nhất của tôi,” anh nói. “Mua ở đâu vậy?”

“Em – er – em đến Cesari,” Michael trả lời giọng ngượng ngùng, e dè. Sophie nhìn Howl. Dường như luôn có việc ngăn cản khi cô quyết định nói về việc cô bị nguyền rủa. Ngay cả nếu điều đó là một pháp sư.

“Trông như đáng chuyến đi đó,” Howl đáp, ngó cái bánh. “Nghe nói bánh Cesari ngon hơn mấy tiệm ở Kingsbury nữa. Tôi thật ngốc chưa đi vào trong đó lần nào. Có phải bánh nướng trên bàn đó không?” Howl bước lại gần để xem. “Bánh nướng trộn một đống hành tươi. Cái sọ người trong có vẻ như bị quấy rối.” Anh cầm cái sọ lên và đẩy miếng khuyên hành (onion ring) ra khỏi hốc mắt. “Sophie lại quậy nữa chứ ý? Không ngăn bả lại sao, bạn hiền?”

Cái đầu lâu khua hàm răng. Howl giật mình và nhanh chóng đặt nó xuống.

“Có gì xảy ra sao?” Michael hỏi. Cậu dường như nhận thấy điềm gì.

“Có chứ,” Howl đáp. “Anh phải tìm người đi nói xấu anh với nhà vua.”

“Bộ cái thần chú xe kéo có gì sai sao?” Michael nói.

“Không. Nó rất tốt. Đó mới là vấn đề.” Howl trả lời, quay quay cái khuyên hành trên ngón tay. “Đức Vua muốn gài anh vào làm việc khác. Calcifer, nếu không cẩn thận, ông ta sẽ chỉ định tôi thành Pháp Sư Hoàng Gia mất.” Calcifer không trả lời. Howl đến gần bếp lửa và nhận ra Calcifer vẫn đang ngủ say. “Kêu cậu ta dậy, Michael,” anh nói. “Anh có chuyện cần bàn.”

Michael quẳng hai khúc củi lên mình Calcifer và gọi hỏa yêu. Không có gì xảy ra, ngoại trừ một làn khói mỏng bay lên.

“Calcifer!” Howl hét lên. Cũng không có gì thay đổi. Howl nhìn Michael một cách kỳ quái, và cầm lấy cây cời lửa, một chuyện Sophie chưa từng thấy anh làm. “Xin lỗi, Calcifer,” anh nói, chĩa xuống dưới mấy khúc củi chưa cháy. “Dậy đi!”

Một làn khói dày màu đen bay lên, và ngừng lại. “Đi chỗ khác,” Calcifer quạu quọ. “Tớ mệt.”

Thấy vậy, Howl hoàn toàn cảnh giác ngay lập tức. “Có gì xảy ra vậy? Chưa bao giờ thấy cậu ta như vậy!”

“Có lẽ tại con bù nhìn đó,” Sophie nói.

Howl xoay người lại và nhướng đôi mắt thủy tinh nhìn cô. “Bà lại làm gì nữa đây?” Anh tiếp tục ngó khi Sophie giải thích. “Bù nhìn?” anh gằn giọng. “Calcifer ưng thuận tăng tốc cho tòa lâu đài chỉ vì một con bù nhìn? Bà Sophie thân mến, làm ơn nói cho tôi biết làm cách nào bắt nạt hỏa yêu cho nó vâng lời như vậy. Tôi rất muốn nghe!”

“Ai mà bắt nạt,” Sophie đáp. “Nó làm tôi sợ và cậu ta thấy tội nghiệp tôi.”

“Nó làm bà sợ và Calcifer tội nghiệp bà,” Howl lập lại. “Sophie yêu dấu, Calcifer chưa bao giờ tội nghiệp ai cả. Dù sao đi nữa, hi vọng bà thích hành sống và bánh nướng cho bữa tối, bởi vì bà gần làm Calcifer tắt rồi đó.”

“Còn cái bánh ngọt mà,” Michael nói, cố giảng hòa.

Thức ăn dường như làm Howl nguôi giận, mặc dù anh vẫn lo lắng liếc nhìn những khúc củi chưa cháy trên bếp trong khi họ ăn. Miếng bánh nướng vừa lạnh, ăn với hành ngâm giấm cũng khá ngon. Miếng bánh ngọt thì thật tuyệt vời. Trong bữa ăn, Michael hỏi Howl xem Đức Vua muốn gì.

“Không chắc chắn gì hết,” Howl ủ rũ đáp. “Nhưng ông ta gợi ý về em của ổng, một dấu hiệu đáng ngại. Rõ ràng họ đã tranh cãi dữ dội trước khi Hoàng tử Justin bỏ đi, mọi người ai cũng nói thế. Nhà Vua rõ ràng muốn anh tự nguyện đi tìm em ổng. Anh không nghĩ Pháp sư Suliman đã chết, và điều đó làm mọi chuyện xấu hơn.”

“Sao cậu lại kiếm cách chuồn khỏi việc tìm kiếm Hoàng thân làm gì?” Sophie gặng hỏi. “Bộ nghĩ không tìm được sao?”

“Vừa biết bắt nạt lại vừa thô lỗ nữa phải không?” Howl nói. Anh vẫn chưa tha cho cô về vụ Calcifer. “Tôi không muốn việc đó vì tôi biết tôi sẽ tìm thấy cậu ta, cho bà biết. Justin là bạn thân của Suliman và cuộc tranh cãi là vì cậu muốn tự đi tìm Suliman. Cậu ta không nghĩ Đức Vua nên cho Suliman đi vào vùng Hoang Phế ngay lúc đầu. Ngay cả bà cũng phải biết có một người trong vùng Hoang phế rất là xấu xa. Bà ta đã thề sẽ nướng chín tôi vào năm ngoái, và bả đã gởi cho tôi một lời nguyền mà tôi chỉ có thể tránh được vì đã cho bả cái tên giả.”

Sophie há hốc. “Ý cậu là cậu phụ tình bà Phù thủy vùng Hoàng phế?”

Howl tự cắt cho mình một miếng bánh, vẻ mặt buồn man mác và ngay thẳng. “Không phải như bà nói vậy đâu. Tôi thừa nhận có một thời gian tôi thích bà ấy một chút. Bà ta là một người rất đau khổ, không được ai thương yêu. Mọi người trong Ingary ai cũng sợ bả hết. Bà cũng biết cảm giác đó mà, Sophie thân ái.”

Sophie căm phẫn há miệng ra. Michael nhanh chóng chen vào, “Anh có nghĩ mình nên chuyển lâu đài đi không? Đó là nguyên nhân anh phát minh ra nó, phải không?”

“Cái đó tùy Calcifer.” Howl ngoái đầu nhìn những khúc củi chỉ hơi cháy xém một lần nữa. “Phải nói là, nếu anh nghĩ cả Đức Vua và bà Phù Thủy đều truy đuổi ta, anh tự nhiên sẽ khao khát được đặt lâu đài trên một hòn đá cách nơi này ngàn dặm.”

Michael hiển nhiên mong là mình đã ngậm miệng lại. Sophie dễ dàng thấy cậu bé đang nghĩ là một ngàn dặm thật là xa xôi để gặp Martha. “Nhưng rồi còn cô Lettie Hatter của cậu thì sao,” cô nói với Howl, “nếu cậu đi chỗ khác?”

“Tôi đoán tới lúc đó thì mọi sự đã xong xuôi rồi,” Howl lơ đãng đáp. “Nhưng nếu tôi có thể nghĩ ra cách cho Đức Vua đừng có bám tôi nữa … Biết rồi!” Anh nhấc nĩa lên, vẫn dính một chút kem và bánh ở trên đó, và chĩa vào Sophie. “Bà có thể đi nói xấu tôi với nhà vua. Bà sẽ giả bộ làm mẹ tôi và van xin cho đứa con trai mắt xanh bé bỏng.” Anh nở một nụ cười - không nghi ngờ gì đã quyến rũ Phù thủy vùng Hoang phế và có lẽ cả Lettie nữa - dọc cái nĩa, qua miếng kem, và thẳng vào trong mắt Sophie, chói lòa. “Nếu bà có thể bắt nạt Calcifer, Đức Vua sẽ không nhằm nhò gì hết.”

Sophie nhìn xuyên qua ánh chói chang và không nói gì. Đây, cô nghĩ, là lúc cô chuồn đi. Cô đã tính rời khỏi. Thật đáng tiếc cho Calcifer về cái hợp đồng. Cô đã chịu Howl quá đủ rồi. Trước là nhớt xanh, rồi lại dám nhìn chòng chọc vào cô về một việc Calcifer đã tự nguyện làm, và giờ là cái trò này! Ngày mai cô sẽ trốn đi Upper Folding và kể cho Lettie nghe tất cả.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 4:19 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 8
Sophie rời khỏi lâu đài trong nhiều phương hướng cùng một lúc


Sophie thấy nhẹ nhõm hơn khi Calcifer lại bừng sáng vui vẻ vào sáng hôm sau. Nếu không phải là đã chịu hết nổi Howl rồi, cô sẽ thấy cảm động vì sự vui mừng của Howl khi nhìn thấy Calcifer. “Tớ tưởng bà già đó cho cậu tiêu tùng rồi chứ,” Howl nói, quỳ xuống cạnh bếp lửa với hai tay áo dính đầy tro.

“Tớ chỉ mệt thôi,” Calcifer đáp. “Có cái gì đó trì lâu đài lại. Tớ chưa từng chạy nhanh như thế.”

“Well, đừng để bà già bắt cậu làm vậy nữa,” Howl nói. Anh đứng dậy, duyên dáng phủi tro khỏi bộ áo xám đỏ. “Hãy bắt đầu làm cái thần chú bữa nay nha, Michael. Nếu có người của Đức Vua tới hỏi, nói là anh có chuyện quan trọng phải làm cho đến sáng mai. Anh đi gặp Lettie, nhưng không cần phải kể chuyện đó ra.” Anh cầm lấy cây đàn guitar, mở cánh cửa có nút vặn màu xanh lơ xuống và bước ra cánh đồi quang đãng.

Con bù nhìn vẫn còn ở đó. Khi Howl mở cửa, nó huých ngang mình anh và cái mặt củ cải húc mạnh vào ngực. Cây guitar phát ra tiếng kêu twang-oing kinh khủng. Sophie hét một tiếng và níu chặt lấy ghế. Một cánh tay gậy của con bù nhìn quay quay tìm cách níu lấy cánh cửa. Theo cách Howl đứng loạng choạng, rõ ràng là anh bị đẩy rất đau. Không còn nghi ngờ quyết tâm của con bù nhìn để bước vào nhà.

Khuôn mặt xanh dương của Calcifer thò ra khỏi bếp lửa. Michael đứng sững sờ. “Vậy là có con bù nhìn thiệt!” cả hai nói.

“Oh, vậy sao? Dư thừa!” Howl hổn hển. Chân anh chặn ngay ngưỡng cửa và đẩy thật mạnh. Con bù nhìn nhảy bật ra sau, rơi xuống bụi thạch nam gần đó. Nó bật dậy ngay lập tức, và lại nhảy đến gần tòa lâu đài. “Không được đâu, bạn hiền,” anh nói, một tay đưa ra. “Trở lại chỗ ngươi đến đi.” Anh chầm chậm bước đến, tay vẫn đưa ra trước. Con bù nhìn lùi lại một chút, và từ từ nhảy trở lại. Khi Howl ngừng, nó cũng ngừng, cái chân độc nhất ghim trong bụi hoa và hai cánh tay rách nát đung đưa lên xuống như đang lần mò kiếm đường vô. Cái giẻ rách bay phần phật trên hai tay nó là một bản sao điên rồ của tay áo Howl.

“Vậy là ngươi không đi hả?” Howl hỏi. Cái đầu củ cải lắc qua lắc lại. Không. “Ta e rằng ngươi phải đi,” Howl đáp. “Ngươi làm Sophie sợ, và có trời mới biết khi bả sợ thì bả làm cái gì. Nói thiệt chứ, ngươi cũng làm ta sợ nữa.” Tay Howl nhấc lên, nặng nhọc, như thể đang nâng một vật gì nặng nề, đến khi qua khỏi đầu anh. Anh hét lên một tiếng kỳ lạ, âm thanh một nửa bị mất hút đi trong tiếng sấm sét đột ngột giữa ban ngày. Con bù nhìn bay vút lên cao, cái giẻ rách bay phất phơ, hai tay xoay tròn, cao hơn, cao nữa, cho đến khi nó chỉ còn là một chấm nhỏ trên bầu trời, rồi một điểm nhỏ trong đám mây, và rồi không còn thấy gì.

Howl hạ tay xuống và trở về thềm cửa, tay chùi chùi mặt. “Tôi rút lại lời tối qua, Sophie,” anh nói, thở hào hển. “Cái vật đó thật đáng sợ. Có lẽ nó đã níu lâu đài lại cả ngày. Nó có phép thuật mạnh nhất mà tôi biết. Đó là gì vậy – phần còn lại của người mà bà quét dọn cho hả?”

Sophie cố há miệng ra cười khò khè yếu ớt. Tim cô lại đập liên miên.

Howl nhận ra cô không ổn. Anh nhảy qua cái đàn guitar vào nhà, nắm khủy tay và dìu cô ngồi xuống ghế. “Từ từ đã nào!” Có gì đó xảy ra giữa Howl và Calcifer lúc ấy. Sophie cảm nhận được, bởi vì Howl đang ôm cô, và Calcifer vẫn nhoài ra ngòai bếp lửa. Dù chuyện gì đi nữa, trái tim cô ngay lập tức đập bình thường trở lại. Howl nhìn Calcifer, nhún vai và cho Michael rất nhiều hướng dẫn về cách làm Sophie nằm yên cả ngày. Rồi anh chàng nhặt lấy cây guitar và đi khỏi.

Sophie nằm trong ghế và giả bị bệnh nặng gấp hai lần. Cô phải để Howl đi khuất mắt trước đã. Thật là phiền khi anh ta cũng đến Upper Folding, nhưng cô sẽ đi bộ rất chậm chạp để lúc cô tới cũng là khi anh chàng quay trở về. Điều quan trọng nhất là không được gặp anh ta trên đường đi. Cô âm thầm theo dõi Michael khi cậu bày thần chú lên bàn và gãi đầu gãi tai đọc nó. Cô chờ đến khi cậu lôi những cuốn sách bìa da dày cộm trên kệ xuống và bắt đầu viết chú thích xuống một cách điên cuồng và sầu khổ. Khi cậu bé dường như đắm mình vào công việc, Sophie lẩm bẩm vài lần, “Ngột ngạt quá!”

Michael không chú ý gì. “Ngột ngạt khủng khiếp,” Sophie nói, ngồi dậy và lóng ngóng đi đến cửa. “Không khí trong lành.” Cô mở cửa và trèo ra ngòai. Calcifer ngoan ngõan dừng lâu đài lại khi cô bước ra. Sophie trên bãi hoang và nhìn xung quanh để định phương hướng. Con đường băng qua đồi để đến Upper Folding là một đường mòn nhỏ qua cánh đồng chỉ bên dưới lâu đài. Tự nhiên là Calcifer sẽ không làm cho Howl thấy bất tiện. Sophie bước đến hướng đó. Cô thấy buồn một chút xíu. Cô sẽ nhớ Michael và Calcifer.

Sophie đã đến gần con đường mòn khi nghe có tiếng la đằng sau lưng. Michael đang chạy hồng hộc xuống con đồi sau lưng cô, và tòa lâu đài đen thui cao lớn kềnh càng bước theo sau cậu, từng cụm khói đen kịt phun ra từ bốn cái tháp.

“Bà đang làm gì thế?” Michael hỏi khi cậu đến gần. Theo kiểu nhìn của cậu, Sophie có thể thấy cậu nghĩ con bù nhìn đã làm cô mất trí.

“Tôi không sao đâu mà,” Sophie phẫn nộ, “tôi chỉ muốn đi cháu gái của người em mà thôi. Con bé cũng tên là Lettie Hatter. Cậu hiểu chưa?”

“Cô ấy sống ở đâu chứ?” Michael truy hỏi, như thể là cậu nghĩ Sophie không biết vậy.

“Upper Folding,” Sophie đáp.

“Nhưng chỗ đó tới hơn mười sáu kí-lô-mét lận!” Michael kêu lên. “Cháu đã hứa với Howl là sẽ canh cho bà nằm nghỉ mà. Không cho bà đi đâu. Cháu đã hứa sẽ không rời mắt khỏi bà.”

Sophie không cảm động tí ti nào. Howl chỉ quan tâm khi anh muốn dùng cô để đi gặp Đức Vua. Dĩ nhiên anh ta không muốn cô rời khỏi lâu đài. “Huh!” cô gằn giọng.

“Ngoài ra,” Michael nói, từ từ hiểu được hoàn cảnh, “Howl cũng đã đi lên Upper Folding mà.”

“Tôi chắc như vậy rồi,” Sophie đáp.

“Vậy là bà thấy lo lắng cho chị đó, nếu đó là cháu gái của bà,” Michael nói, cuối cùng cũng hiểu được vấn đề. “Cháu hiểu! Nhưng vẫn không cho bà đi được.”

“Tôi đi đây,” Sophie trả lời.

“Nhưng nếu Howl thấy bà ở đó, ảnh sẽ giận cho coi,” Michael tiếp tục giải thích. “Bởi vì cháu đã hứa, ảnh sẽ giận cả hai chúng ta. Bà nên về nghỉ ngơi.” Và rồi, đến lúc Sophie gần sẵn sàng đập cậu một cái, cậu hét lên, “Biết rồi! Trong phòng chứa đồ có đôi giày bảy dặm !”

Cậu kéo cánh tay gầy ốm già nua của Sophi và dẫn cô lên lâu đài đang đứng đợi trên đồi. Cô buộc phải nhảy từng bước nhỏ để không bị kẹt chân trong hoa thạch nam. “Nhưng,” cô thở hổn hển, “bảy dặm là đến bốn chục kí lô mét! Giạng chân hai cái là đến Porthaven rồi!”

“Không, mỗi bước đi mười bảy kí lô hà,” Michael nói. “Đến Upper Folding gần đúng luôn. Nếu mỗi người lấy một chiếc giày và đi chung với nhau, vậy thì cháu sẽ không rời mắt khỏi bà, và bà sẽ không làm việc quá sức, mình sẽ đến đó trước anh Howl, ảnh cũng sẽ không biết là mình đã đến. Mọi chuyện đều được giải quyết tốt đẹp!”

Michael có vẻ hài lòng đến nỗi Sophie không nỡ nào mà phản đối. Cô nhún vai và mặc kệ cho Michael nhìn thấy hai cô Lettie trước khi họ lại tráo đổi hình dạng nữa. Như vậy có vẻ ngay thẳng hơn. Nhưng khi Michael lấy đôi giày từ phòng chứa đồ, Sophie bắt đầu thấy nghi ngờ. Cho đến giờ cô vẫn nghĩ chúng là hai cái thùng bằng da bị mất quai và rồi bị dẫm bẹp dí.

“Bà bỏ chân vào đây, với giày,” Michael giải thích khi cậu mang hai cái thùng bằng da ra cửa. “Đôi này là hàng mẫu để Howl làm giày cho quân đội của Nhà Vua. Mấy đôi sau này chúng cháu làm mỏng hơn và giống giày hơn.” Cậu và Sophie ngồi trên thềm cửa và mỗi người đặt một chân vào một chiếc giày. "Hướng chân về phía Upper Folding trước khi bà đặt chân xuống,” Michael cảnh cáo trước. Cậu và Sophie đứng trên chiếc chân với cái giày thường, và nhảy lò cò hướng mặt về Upper Folding. “Bước nào,” Michael nói.

Zip! Cảnh vật ngay lập tức lướt qua họ nhanh chóng, nhòe đi, bóng mờ xanh lơ xám cho đất và bóng mờ xanh dương xám cho bầu trời. Vận tốc gió thổi như xé nát mái tóc của Sophie và kéo những nếp nhăn trên của cô ra đằng sau cho tới khi cô tưởng sẽ đến nơi với nửa khuôn mặt vắt trên vành tai.

Mọi việc đột ngột dừng lại như khi bắt đầu. Mọi thứ trở lại bình yên và sáng sủa. Họ đứng trong bụi cây mao lương chính giữa ngôi làng Upper Folding. Một con bò gần đó nhìn họ. Xa xa, mái nhà tranh nằm uể oải dưới bóng cây. Đáng tiếc thay, cái chiếc giày thau nặng chịch làm Sophie loạng choạng đứng không vững.

“Đừng có đặt chân đó xuống!” Michael hét lên, quá trễ.

Một tiếng rít lên mờ mịt và gió thổi vù vù lần nữa. Sophie thấy mình đứng trong Thung Lũng Folding, gần vùng đầm lầy. “Oh, chết!” cô nói, và nhảy tưng tưng trên cái giày kia rồi thử lần nữa.

Zip! Mờ. “Oh, lại nữa!” Sophie rên. Cô lại trở về trên ngọn đồi. Hình dạng xấu xí đen thui của tòa lâu đài đang trôi lững lờ bình an trên ngọn đồi kế bên. Calcifer đang giải trí bằng cách thổi khói thành những vòng tròn bay lên từ cái tháp. Sophie thấy được nhiêu đó trước khi giầy cô lại dẫm vào trong bụi thạch lam và té chổng gộng lần nữa.

Zip! Zip! Lần này Sophie nhanh chóng thăm viếng liên tiếp quảng trường của Market Chipping và sân trước của một tòa biệt thự huy hoàng. “Khỉ!” Cô hét. “Thật!” Mỗi từ cho mỗi chỗ. Và cô lại chúi người ngã theo đà rơi, một tiếng Zip! vào ngay trong thung lũng cánh đồng nào đó. Một con bò mộng ngẩng mặt lên từ bãi cỏ và cúi đầu xuống chĩa hai cái sừng ra.

“Tôi đi ngay đây mà, chú bò thân yêu!” Sophie thét, hốt hoảng nhảy lò cò vòng quanh.

Zip! Trở lại biệt thự. Zip! trở lại quảng trường. Zip! Lại lâu đài lần nữa. Cô bắt đầu hiểu rõ cách sử dụng. Zip! Đấy là Upper Folding – nhưng làm sao ngừng đây? Zip!

“Oh, quỷ tha ma bắt!” Sophie khóc thét, gần như trở lại vùng đầm lầy nữa.

Lần này cô nhảy một chân rất cẩn thận và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi bước đi. Zip! May mắn thay lần này cô hạ trúng ngay đống phân bò và ngồi phịch xuống. Michael chạy bổ tới trước khi Sophie đứng dậy được và lôi chiếc giày khỏi chân cô. “Cám ơn!” Sophie hết hơi nói. “Dường như là tôi không thể ngừng lại vậy!”

Tim Sophie đập mạnh khi họ đi bộ đến nhà dì Fairfax, nhưng chỉ theo cách mà tim đập khi mình làm việc quá nhanh. Cô thấy biết ơn vì phép lạ mà Howl và Calcifer đã làm buổi sáng.

“Chỗ này đẹp quá,” Michael nhận xét khi giấu đôi giày vào trong bụi cây nhà dì Fairfax.

Sophie đồng ý. Ngôi nhà này lớn nhất vùng. Ngói được lợp lá, tường trắng xen lẫn cột đen, và, Sophie nhớ lại những chuyến thăm hồi nhỏ, dẫn đến cánh cổng dầy đặc hoa và ong mật. Trên cổng hai cây hoa kim ngân và dây hồng leo đang tranh nhau xem hoa nào cho ong nhiều mật hơn. Đó là một buổi sáng mùa hè tuyệt đẹp ở Upper Folding.

Dì Fairfax tự mình trả lời tiếng gọi cổng. Dì là một trong những quý bà tròn trịa, dễ thương, máit tóc màu hạt dẻ bới thành cuộn tròn đằng sau gáy, một người chỉ nhìn vào là ta thấy yêu đời liền. Sophie thấy ghen tị với Lettie một chút xíu. Dì Fairfax nhìn từ Sophie sang Michael. Dì đã thấy Sophie năm ngoái vẫn còn là một cô bé mười bảy, và không có lý do gì để dì nhận ra cô dưới lốt một bà già chín chục tuổi. “Xin chào,” dì nói lịch sự.

Sophie thở dài. Michael nói, “Đây là bà dì của cô Lettie Hatter. Cháu cùng bà đến thăm chị Lettie.”

“Oh, hèn chi tôi thấy khuôn mặt rất quen thuộc!” Dì Fairfax kêu lên. “Hai người có nét giống nhau lắm. Xin mời vào. Lettie hiện đang bận rộn, nhưng mời hai người ăn bánh uống trà khi chờ đợi.”

Dì mở cửa rộng ra hơn. Ngay lập tức một con chó lông xù lách qua váy dì Fairfax, luồn giữa Sophie và Michael, và chạy thẳng đến luống hoa gần nhất, bứt bông loạn xì ngầu lên.

“Oh, ngừng lại!” Dì Fairfax hét lên, chạy bay ra ngòai. “Mày chưa được ra ngòai đâu!”

Cuộc rượt đuổi tán loạn diễn ra trong một phút. Con chó chạy tới chạy lui, miệng sủa ong ỏng, dì Fairfax và Sophie chạy theo, nhảy lên thảm hoa và đụng vào nhau côm cốp, Michael rượt theo sau Sophie miệng hét lên, “Dừng lại! Bà sẽ bệnh nữa bây giờ!” Rồi con chó vừa chạy vừa nhảy cẫng lên quanh góc tường của ngôi nhà. Michael nhận ra cách duy nhất ngừng Sophie lại là bắt được con chó. Cậu chạy xuyên qua luống hoa, lao mình theo nó và hai tay chộp lấy chòm lông xù khi nó vừa chạy đến vườn cây đằng sau nhà.

Khi Sophie lạch bạch chạy đến, Michael đang kéo con chó ra xa vườn và làm khuôn mặt nhăn nhó đến nỗi cô tưởng cậu bị bệnh. Nhưng đầu cậu liên tục hất hất phía sau vườn như muốn nói với cô điều gì. Sophie núp trong góc tường ló mặt ra ngoài, tưởng là có tổ ong.

Howl đang ở đó với Lettie. Họ ngồi dưới táng cây táo đang nở hoa rực rỡ, và xa phía sau là dãy tổ ong mật. Lettie ngồi trên cái ghế màu trắng, Howl quì một chân xuống đất, tay nắm bàn tay của người đẹp, khuông mặt ngước lên vẻ nồng nàn và quí phái. Lettie nhìn anh đầy yêu thương. Nhưng tệ hơn hết, Sophie nghĩ, là Lettie không trông giống Martha một chút nào. Cô bé trở lại với vẻ đẹp kiêu sa quyến rũ của chính mình. Áo đầm màu hồng trắng như những đóa hoa táo trên đầu. Mái tóc đen tuyền từng lọn rủ xuống trên bờ vai và đôi mắt ánh lên vẻ sùng bái Howl.

Sophie rụt đầu lại sau tường và mất hết tinh thần nhìn Michael đang ôm chặt con chó vào lòng. “Anh ấy chắc đem thần chú tốc độc đến đây,” Michael thì thầm, cùng hết hồn luôn.

Dì Fairfax đuổi kịp họ, thở mệt nhọc và đang cố cài lại mái tóc bị xổ tung ra. “Đồ hư hỏng!” dì nói giọng nghiêm khắc với nhúm lông xù. “Ta sẽ phải cho mày câu thần chú để mày không làm thế nữa!” Con chó chớp mắt và chúi mình xuống. Dì Fairfax chĩa ngón tay ra răn đe, “Đi vào nhà! Ở ngay trong nhà mau!” Con chó xù vùng khỏi tay Michael và len lén vào nhà lại. “Cám ơn cháu rất nhiều,” dì Fairfax nói với Michael khi bọn họ đi theo sau. “Nó cứ muốn cắn khách của Lettie hoài. Vào nhà!” dì hét lớn với con chó ngay trước vườn, khi nó dường như muốn chuồn quanh nhà và chui vào vườn bằng đường khác. Nó ngoái lại liếc dì một cách thểu não và bò thất thểu vào nhà.

“Con chó có lẽ đúng đó!” Sophie nói. “Cô Fairfax, cô có biết khách của Lettie là ai không?”

Dì Fairfax cười khúc khích. “Là Pháp sư Pendragon, hay là Howl, hay bất cứ cái gì mà cậu ta giả dạng,” dì nói. “Nhưng Lettie và tôi không nói là chúng tôi biết. Tôi khá buồn cười khi lần đầu tiên cậu ta đến, tự nhận mình là Sylvester Oak, rõ ràng đã quên tôi, dù rằng tôi chẳng hề quên cậu ta, dẫu cho tóc cậu màu đen khi còn đi học.” Dì Fairfax bây giờ đang nắm hai tay lại trước ngực, đứng thẳng lên, chuẩn bị nói chuyện cả ngày, như Sophie thường thấy dì làm vậy. “Cậu ta là học trò cuối cùng của bà giáo tôi, trước lúc bà nghỉ hưu. Khi ông Fairfax vẫn còn sống, ông ấy thường kêu tôi làm phép phi hành đến Kingsbury để xem trình diễn. Tôi có thể đưa hai người đi nếu chỉ đi từ từ. Và tôi thường đến thăm bà Pentstemmon khi ở đó. Bà giáo thích gặp lại học sinh cũ lắm. Ồ, bà rất tự hào về cậu bé. Bà cũng dạy Pháp sư Suliman nữa, và nói là Howl giỏi gấp đôi…”

“Nhưng chẳng lẽ dì không biết tai tiếng của Howl sao?” Michael cắt ngang.

Chặn lời của dì Fairfax cũng như là tham gia trò chơi nhảy dây giữa chừng vậy. Phải chọn giây phút chính xác, nhưng nếu bạn đã vào, thì không thể ngừng. Dì Fairfax hơi nghiêng đầu về phía Michael.

“Đối với tôi thì phần nhiều chỉ là lời đồn đại thôi,” dì nói. Michael định mở miệng để nói là không phải vậy, nhưng cậu đang ở trong vòng dây và nó tiếp tục quay. “Và tôi nói với Lettie, ‘Đây là cơ hội của con, con gái yêu ạ.’ Tôi biết Howl có thể dạy nó gấp hai mươi lần mà tôi có thể dạy – tôi không ngại nói thẳng, Lettie quá thông minh cho tôi, và cô bé có thể trở thành đồng vị trí với bà Phù Thủy vùng Hoang Phế, chỉ là ở bên tốt thôi. Lettie là cô bé ngoan và tôi rất yêu nó. Nếu Bà Pentstemmon vẫn còn dạy học, tôi sẽ gởi Lettie đến với bà ngay. Nhưng bà đã nghỉ hưu. Vì vậy tôi nói, ‘Lettie, đây là Pháp sư Howl đang theo đuổi con, con có thể yêu cậu ấy, và để cậu ta dạy con. Hai đứa tụi con sẽ rất thành công trong sự nghiệp.’ Tôi không nghĩ Lettie thích ý nghĩ đó lúc đầu, nhưng gần đây nó xuôi xuôi, và hôm nay dường như đã chịu hoàn toàn rồi.”

Dì Fairfax ngừng lại nhìn Michael vẻ rộng lượng, và Sophie nhảy vào trong cuộc chơi. “Nhưng có người nói với tôi Lettie thích người khác mà,” cô nói.

“Tội nghiệp cho gã thì có,” dì Fairfax đáp. Dì hạ giọng. “Cậu đó có một thương tật lớn,” dì thầm thì gợi ý, “và nó đòi hỏi rất nhiều ở một cô gái. Tôi nói thẳng như vậy. Tôi cũng thấy tội nghiệp cậu ta lắm…”
Sophie cố nặn ra một nụ cười bí hiểm, “Oh?”

“… Nhưng đó là một câu thần chú mạnh mẽ. Thật là đáng thương,” dì Fairfax đào sâu. “Tôi phải nói với cậu ta là không cách nào mà một người với khả năng của tôi có thể phá vỡ bất cứ cái gì của Phù Thủy vùng Hoang Phế. Howl có thể, nhưng dĩ nhiên cậu ta không thể hỏi Howl được, đúng không?”

Michael bồn chồn nhìn ra cửa, đề phòng Howl bước vào và nhìn thấy họ. Cậu khéo léo giẫm lên được sợi dây và chấm dứt cuộc chơi bằng câu nói, “Cháu nghĩ mình nên về sớm.”

“Hai bà cháu không vào thử mật ong của tôi sao?” dì Fairfax hỏi. “Tôi bỏ mật vào trong tất cả thần chú của tôi.” Và dì lại nói tiếp, lần này về những đặc tính thần kỳ của mật ong. Michael và Sophie chủ tâm đi xuống con đường ra cổng và dì Fairfax bước theo họ, miệng vẫn không ngừng, trong khi buồn bã dựng lên các cây hoa bị con chó dẫm đạp. Lúc đó Sophie ráng tìm cách để hỏi làm sao mà dì Fairfax biết được Lettie là Lettie, mà không làm Michael cảnh giác. Dì Fairfax dừng lại thở một chút và kéo bụi cây đậu lên thẳng.

Sophie chộp lấy cơ hội. “Bà Fairfax, không phải cháu gái Martha của tôi đã được gởi đến đây sao?”

“Mấy đứa bé nghịch ngợm!” dì Fairfax phán, lắc đầu mỉm cười khi thò ra khỏi bụi đậu. “Làm như là tôi không thể nhận ra một trong những thần chú mật ong của tôi! Nhưng tôi đã nói với cô bé, ‘Dì sẽ không giữ cháu lại nếu cháu không muốn ở đây, và dì thích dạy người nào muốn học hơn. Chỉ là,’ tôi nhấn mạnh, ‘dì không muốn có sự giả dối ở đây. Cháu phải ở đây trong con người thật của cháu hoặc là không ở lại.’ Và mọi việc đều tốt đẹp ngay sau đó, như bà đã thấy. Bà có chắc là không muốn ở lại và nói chuyện với cháu nó chứ?”

“Chúng tôi đến giờ về rồi,” Sophie đáp.

“Phải trở về ngay,” Michael chêm vào, đôi mắt vẫn lo lắng liếc về phía khu vườn. Cậu lượm đôi giày từ trong bụi cậy và đặt một chiếc ngoài cổng cho Sophie. “Và lần này cháu sẽ nắm tay bà,” cậu nói.

Dì Fairfax dựa vào cổng nhà khi Sophie đặt chân vào giầy. “Giày bảy dặm,” dì nói. “Bà tin không, đã lâu rồi tôi không thấy mấy đôi đó nữa. Rất là hữu ích cho những ai bằng tuổi bà, bà … Er… Tôi cũng muốn có một đôi. Vậy là Lettie thừa kế tài năng phù thủy từ bà phải không? Không phải là nó di truyền trong gia đình, nhưng thường thì …”

Michael chộp lấy tay Sophie và kéo giật. Hai đôi giày chạm xuống đất và phần còn lại của câu nói biến mất trong cái “Zip!” của luồng không khí. Giây phút kế tiếp Michael phải kềm chân lại để tránh đụng độ tòa lâu đài. Cánh cửa mở toang ra. Bên trong, Calcifer hét lên, “Cánh cửa Porthaven! Có người đập cửa từ khi hai người rời khỏi.”


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 4:22 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 9
Michael gặp rắc rối với một câu thần chú

Ngoài cửa là vị thuyền trưởng, đến để lấy thần chú thổi gió, và không hài lòng khi phải chờ đợi. “Nếu tôi làm lỡ cơn thủy triều, cậu nhỏ,” ông nói với Michael, “tôi sẽ nói chuyện với Pháp sư về cậu. Tôi không thích mấy người lười biếng đâu.”

Michael, theo ý Sophie, quá sức lịch sự với ông ta, nhưng cô đã quá chán nản để xen vào. Khi ông thuyền trưởng đi khỏi, Michael lại bước đến bàn làm việc để nhăn mặt nhíu mày với câu thần chú một lần nữa và Sophie ngồi yên lặng sửa đôi vớ của mình. Cô chỉ có một đôi và hai chân già nua đã đục lủng nhiều lỗ to lớn. Cô tự hỏi không biết có dám cắt phần lành lặn còn lại của cái áo choàng xanh bạc mà Howl thích để làm một cái váy. Nhưng cuối cùng cô không dám.

“Sophie,” Michael cất tiếng, ngước nhìn lên khỏi đống giấy mười một trang của cậu, “bà có bao nhiêu cháu gái?”

Sophie đã e Michael bắt đầu hỏi lung tung. “Khi cậu già bằng tôi, cậu trẻ,” cô nói, “cậu không đếm nữa. Bọn chúng đều giống nhau. Hai cô Lettie đó có thể là sinh đôi trong trí tôi.”

“Ồ, không, không thể đâu,” Michael trả lời trong sự ngạc nhiên của cô. “Cô gái ở trên Upper Folding đâu có đẹp bằng Lettie của cháu.” Cậu xé trang giấy thứ mười một và viết trang mười hai. “Cháu mừng là anh Howl đã không gặp em Lettie của cháu,” cậu tiếp. Cậu bắt đầu viết trang mười ba và rồi xé nó luôn. “Cháu muốn cười đau cả bụng khi dì Fairfax nói dì ấy biết Howl là ai, bà có vậy không?”

“Không,” Sophie nói. Biết hay không thì đâu có gì khác nhau với tình cảm của Lettie. Cô nghĩ đến khuôn mặt sáng ngời, đầy yêu thương của Lettie dưới bóng cây táo. “Không lẽ là,” cô thất vọng hỏi, “không có cơ hội là Howl thật sự đã yêu lần này sao?”

Calcifer khịt ra tàn lửa nhỏ lên thẳng ống khói.

“Cháu đã sợ là bà sẽ nghĩ như vậy mà,” Michael nói. “Nhưng nghĩ vậy chỉ tự gạt mình thôi, như là dì Fairfax vậy đó.”

“Làm sao cậu biết được?” Sophie truy.

Calcifer và Michael liếc nhìn nhau. “Anh có quên ở trong phòng tắm ít nhất một đồng hồ trước khi ra ngoài sáng nay không?” Michael hỏi.

“Thằng chả ở trỏng hơn hai tiếng đồng hồ,” Calcifer đáp, “đắp thần chú lên khắp bộ mặt. Cái thằng phù phiếm!”

“Vậy thì đúng rồi đó,” Michael nói. “Cái ngày mà anh Howl quên làm chuyện đó sẽ là ngày mà cháu tin ảnh đã thật sự biết yêu, không một ngày sớm hơn.”

Sophie nhớ lại hình ảnh Howl quỳ một chân trong vườn cây trái, trưng ra điệu bộ đẹp trai sáng sủa nhất, và biết hai người nói đúng. Cô nghĩ đến việc đi vào phòng tắm và đổ hết tất cả thần chú làm đẹp của Howl xuống ống cống. Nhưng cô không dám. Thay vì thế, cô ì ạch đứng dậy đi lấy cái áo xanh bạc, và cô dành cả ngày để khoét từng ô tam giác màu xanh ra để làm cái váy.

Michael vỗ vai cô nhè nhẹ khi cậu đi quẳng hết mười bảy trang giấy vào mình Calcifer. “Cuối cùng ai cũng phải hiểu thế mà,” cậu nói.

Vào giờ này rõ ràng là Michael gặp khó khăn với câu thần chú. Cậu vứt bỏ mấy trang giấy ghi chép và cạo bồ hóng khỏi ống khói. Calcifer nghển cổ ra nhìn cậu hoang mang. Michael lấy một cái rễ cây héo khô từ trong cái bịch treo lủng lẳng trên trần nhà xuống và bỏ nó vào trong đống bồ hóng. Sau một hồi suy nghĩ, cậu vặn nút xanh dương xuống và biến vào trong Porthaven hết hai mươi phút. Cậu trở về với một con ốc hình xoáy to tướng, và đặt nó lên trên rễ cây và bồ hóng. Tiếp theo cậu xé hàng chục trang giấy và bỏ chúng vào luôn. Cậu đặt tất cả trước cái đầu lâu và đứng thổi phù phù, làm bồ hóng và vài mảnh giấy bay tá lả trên bàn ghế.

“Bà nghĩ coi cậu ta đang làm gì vậy?” Calcifer hỏi Sophie.

Michael từ bỏ việc thổi giấy và bắt đầu đập phá, giấy và tất cả, với cái chày và cối, lâu lâu liếc nhìn trông đợi vào cái sọ người. Không có gì xảy ra hết, nên cậu lại lấy các loại hương liệu khác nhau từ chai lọ và bịch giấy bỏ vào cối.

“Cháu thấy có lỗi vì đã theo dõi anh Howl,” cậu tuyên bố khi đang liệng đống hương liệu thứ ba vào trong cối. “Anh ấy có thể không chung thủy với mấy chị gái, nhưng ảnh tốt với cháu lắm. Ảnh cho cháu vào nương nhờ khi cháu chỉ là một đứa bé mồ côi ngồi trên ngưỡng cửa nhà ở Porthaven.”

“Chuyện đó là thế nào vậy?” Sophie hỏi, tay vừa cắt thêm một miếng vải xanh ra.

“Mẹ cháu mất và bố cháu chết đuối trong một cơn bão,” Michael đáp. “Không có ai chứa chấp cháu hết. Cháu phải rời khỏi nhà vì không đủ tiền để mướn, và phải sống lang thang trên đường, nhưng người ta cứ đuổi cháu khỏi bậc thềm và khỏi thuyền, cho đến khi chỗ duy nhất mà cháu nghĩ đến là nơi ai cũng sợ phải dính vào. Khi đó Howl chỉ mới ra nghề làm Thuật Sĩ Jenkin. Nhưng mọi người đều nói nhà ảnh có ma quỷ ở trong, nên cháu ngủ trên bậc thềm vài đêm cho đến một buổi sáng Howl mở cửa để đi mua bánh mì và làm cháu té. Rồi ảnh nói cháu có thể chờ bên trong đến khi ảnh đi chợ về. Cháu bước vào, và gặp Calcifer. Cháu bắt chuyện với cậu ấy vì cháu chưa bao giờ gặp quỷ hồi nào hết.”

“Hai người nói chuyện gì nào?” Sophie hỏi, không biết Calcifer có hỏi Michael giúp phá hợp đồng không.

“Cậu kể mấy chuyện buồn đó và nhỏ nước mắt làm ướt mình tớ, phải không nào?” Calcifer nói. “Cậu ta không thèm biết là tớ cũng có chuyện buồn nữa chứ bộ.”

“Tớ không nghĩ đến việc đó. Cậu chỉ gầm gừ rất nhiều thôi,” Michael trả lời. “Cậu khá dễ thương với tớ buổi sáng hôm đó và tớ nghĩ anh Howl kinh ngạc lắm à. Nhưng bà biết ảnh rồi đó. Ảnh không nói là cháu có thể ở lại. Ảnh chỉ không nói là cháu phải đi thôi. Thế nên cháu cố gắng giúp việc lặt vặt khi nào có thể, như là cất dấu tiền để ảnh không ăn xài hết ngay lập tức, vậy đó.”

Cái thần chú phát ra tiếng whuff rồi nổ lách tách. Michael phủi bụi bồ hóng xuống cái sọ người, thở dài và thử vài hương liệu mới. Sophie bắt đầu khâu các mảnh vải vụn hình tam giác dưới chân cô lại với nhau.

“Cháu phạm nhiều lỗi ngu ngốc khi mới đến lắm,” Michael tiếp tục. “Nhưng anh Howl rất là kiên nhẫn. Cháu nghĩ bây giờ cháu không làm lỗi nữa. Và cháu nghĩ là cháu giúp ảnh nhiều trong việc tiết kiệm. Howl hay mua sắm áo quần xa xỉ lắm. Ảnh nói không ai nhận một pháp sư trông như là không thể tự nuôi sống mình được.”

“Tại vì thằng chả thích se sua thôi mà,” Calcifer chen vào. Đôi mắt màu cam liếc Sophie làm việc khá dữ dội.

“Bộ này bị hỏng rồi,” Sophie lấp liếm.

“Không phải chỉ quần áo không đâu,” Michael kể. “Còn nhớ mùa đông năm ngoái mình không còn thanh củi nào mà anh Howl lại xách tiền đi mua cái đầu lâu và cái cây đàn guitar quái quỉ đó không? Làm tớ tức mấy hôm. Ảnh nói trông chúng đẹp.”

“Vậy cái vụ củi khô giải quyết làm sao?” Sophie hỏi.

“Howl làm phép lấy mấy khúc cây từ một người thiếu nợ ảnh,” Michael nói. “Ít nhất là ảnh nói vậy, cháu chỉ hi vọng anh ấy nói thiệt thôi. Và chúng cháu phải ăn rong biển. Anh Howl nói tốt cho sức khỏe.”

“Tốt chứ,” Calcifer lầm bầm. “Khô khan và nổ tanh tách.”

“Cháu ghét nó lắm,” Michael đáp, lơ đãng ngó vào cái cối đựng chất hỗn hợp đã nát vụn. “Cháu không biết – đáng lẽ phải có bảy chất liệu, trừ khi đó là bảy hành động, nhưng thử để vào ngũ giác tinh xem sao.” Cậu đặt cái cối trên bàn, và vẽ hình ngôi sao năm cánh xung quanh.

Chất bột nổ tung dữ dội, thổi banh mấy mảnh tam giác của Sophie vào trong bếp lửa. Michael chửi thề và nhanh chóng chùi đi hình vẽ.

“Sophie,” cậu nói. “Cháu bị kẹt với câu thần chú này rồi. Bà có thể nào giúp cháu được không?”

Giống như một cậu bé đem bài tập về nhà đến cho bà ngoại vậy, Sophie nghĩ, lụm cụm lượm và xếp lại các mảnh vải tam giác. “Xem nào,” cô thận trọng trả lời. “Tôi không biết gì hết về ma thuật, cậu biết rồi đấy.”

Michael hăng hái dúi một tờ giấy kỳ lạ, láng láng vào trong tay cô. Nó có vẻ quái dị, ngay cả cho một câu thần chú. Chữ được in đậm, nhưng hơi xám và bị nhòe, xung quanh bìa giấy có vết mờ mờ màu xám, như bóng mây của cơn bão đang dần tan đi. “Bà xem thử xem nó nghĩa gì,” Michael nói.

Sophie đọc:


"Giơ tay bắt lấy sao sa,
Ớt mã rồi cũng sinh con,
Kể cho tôi tháng năm qua đâu,
Hay ai đã làm nứt chân Quỷ.
Dạy tôi nghe tiếng hát mỹ nhân ngư,
Hay phòng ngừa mũi chích của ghen tị,
Và tìm
Ngọn gió
Thúc đẩy tâm trí thật thà.

Quyết định xem đây nói về gì
Và tự mình viết vế thứ hai!”

Bài thơ làm Sophie cực kỳ bối rối. Không giống như bất cứ câu thần chú nào mà cô đã xem lén trước đây. Cô lướt qua nó lần nữa, tiếng Michael hăng hái giải thích khi cô đang đọc không giúp đỡ tí nào. “Bà biết anh Howl bảo cháu là mấy thần chú cấp cao thì có câu đố ở trong? Đầu tiên cháu quyết định là mỗi dòng là một câu đố. Cháu lấy bồ hóng với tia lửa ở trong để làm sao rơi, vỏ ốc để làm tiếng hát người cá. Rồi cháu nghĩ cháu có thể là đứa trẻ, nên cháu lấy rễ cây xuống, và viết danh sách những năm qua trong cuốn niên giám, nhưng cháu không chắc về điều đó lắm – có lẽ là cháu đã sai chỗ đó rồi – và để tránh bị ganh tỵ chích là lá cây chút chít? Cháu chưa nghĩ đến đó – dù sao đi nữa, không có gì đúng cả!”

“Tôi không ngạc nhiên,” Sophie nói. “Tôi thấy nó giống danh sách những việc không thể làm được quá.”

Nhưng Michael không chịu lời giải thích đó. Nếu những cái đó không làm được, cậu lý giải, thì không ai có thể hòan thành câu thần chú đó được. “Và,” cậu nói thêm, “cháu thấy xấu hổ vì đã theo dõi anh Howl nên muốn bù lại bằng cách hoàn thành câu thần chú này.”

“Rất tốt,” Sophie đáp. “Vậy thì hãy bắt đầu với ‘Quyết định xem đây nói về gì.’ Hiểu được câu đó dường như sẽ hiểu mấy câu kia, nếu quyết định là một phần của thần chú.”

Nhưng Michael cũng không chịu. “Không,” cậu nói. “Đây là loại thần chú sẽ tự hiện ra khi ta làm. Đó là ý nghĩa của câu cuối. Khi ta viết đoạn thứ hai, giải thích câu thần chú, thì nó sẽ hoàn tất. Những loại này cao cường lắm. Ta phải bắt đầu từ dòng đầu tiên.”

Sophie xếp mấy mảnh vải tam giác thành một đống. “Vậy hãy hỏi Calcifer,” cô góp ý. “Calcifer, ai …?

Nhưng Michael cũng không cho cô làm điều này. “Không, không được hỏi. Cháu nghĩ Calcifer cũng là một phần của thần chú. Coi cách nó nói kìa ‘Kể tôi’ và ‘Dạy tôi.’ Thoạt đầu cháu nghĩ là dạy cái đầu lâu, nhưng không đúng, vậy nên phải là Calcifer.”

“Vậy thì cậu tự làm một mình đi, nếu cứ leo vào họng tôi ngồi như vậy!” Sophie giận. “Dầu sao đi nữa, Calcifer chắc chắn biết ai chẻ chân cậu ta!”

Calcifer bừng sáng lên một chút khi nghe thế. “Tôi không có chân. Tôi là yêu, không phải quỷ.” Nói xong, cậu ta lại nằm dưới khúc củi, nơi cậu khua xủng xoảng, càu nhàu, “Vô lý hết sức!” suốt thời gian Sophie và Michael bàn thảo câu thần chú. Vào lúc này câu đố đã hoàn toàn thu hút Sophie. Cô cất mấy hình tam giác xanh qua một bên, lấy giấy bút, rồi nghệch ngoạc nhiều như Michael. Cả ngày hôm đó cô và Michael ngồi nhìn vào trong khoảng không, cắn bút, và nói lớn ý kiến của mình.

Một tờ giấy bình thường của Sophie viết:

Tỏi có giúp tránh xa sự ganh tị không? Tôi có thể cắt giấy thành ngôi sao và thả nó xuống. Có thể hỏi Howl không? How sẽ thích người cá hơn là Calcifer. Không nghĩ là trí óc của Howl thành thật. Calcifer có không? Những năm tháng qua ở đâu chứ? Có phải mấy rễ cây khô sẽ ra trái không? Trồng nó? Kế bên cây chút chít? Trong vỏ ốc? Móng vuốt bị chẻ, mọi con vật trừ ngựa. Cho con ngựa mang giày tỏi? Gió? Mùi? Gió của đôi hài bảy dặm? Howl có phải là quỷ không? Ngón chân chẻ trong hài bảy dặm? Người cá mang giày?


Khi Sophie đang viết , Michael cũng hỏi liên miên, “Có thể nào ‘gió’ là một loại ròng rọc không? Một người trung thực bị treo cổ? Nhưng đó là hắc ma thuật mà.”

“Thôi mình đi ăn tối,” Sophie nói.

Hai người ăn bánh mì với cheese, vẫn suy nghĩ mông lung. Cuối cùng Sophie tuyên bố, “Michael, thôi mình bỏ việc đoán mò đi và thử làm y như bài thơ nói xem sao. Đâu là chỗ tốt nhất để bắt sao rơi? Ngoài đồi hả?”

“Đầm lầy ở Porthaven bằng phẳng hơn,” Michael đáp. “Được không? Mấy ngôi sao rớt xuống nhanh lắm.”

“Mình cũng vậy, trong đôi giày bảy dặm,” Sophie chỉ.

Michael bật dậy, nhẹ nhõm vui sướng. “Cháu nghĩ bà đúng đó!” cậu nói, chạy đi tìm đôi giày. “Đi thử xem nào.”

Lần này Sophie thận trọng lấy cây gậy dẫn đường và áo choàng, vì bên ngoài đã chạng vạng tối. Michael vặn nút xanh dương xuống khi hai điều lạ chợt xảy ra. Trên bàn làm việc, hàm răng cái đầu lâu va vào nhau kêu lộp cộp. Calcifer bùng sáng rực rỡ lên thẳng ống khói. “Tôi không muốn hai người đi!” cậu phán.

“Chúng tôi về ngày thôi,” Michael dỗ dành.

Bọn họ bước ra con đường ở Porthaven. Đó là một đêm sáng sủa, êm dịu. Ngay khi họ đến cuối con đường, Michael đột ngột nhớ lại là Sophie đã ngã bệnh vào buổi sáng và bắt đầu lo lắng không khí buổi tối sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe. Cô kiên quyết chống gậy bước đi, đến khi họ bỏ xa những cửa sổ sáng trưng phía sau và đêm tối trở nên rộng lớn, ẩm ướt và lạnh lẽo hơn. Vùng đầm lầy có mùi muối và đất. Mặt biển lấp lánh và nhẹ nhàng vỗ sóng vào bờ. Cô chỉ có thể nhìn thầy dãy sương mù xanh xanh và những đốm lập lòe trên đầm lầy, càng lúc càng nhiều hơn, cho đến khi chúng thành một đường thẳng lợt ở đường chân trời. Bầu trời bao trùm mọi nơi, lớn hơn tất cả. Dãy Ngân Hà trông như một làn sương mù tỏa lên từ đầm lầy, và các ánh sao long lanh chiếu sáng.

Michael và Sophie đứng yên, mỗi người có một chiếc giày đặt trên mặt đất trước mặt, chờ cho sao rụng.

Sau hơn một tiếng đồng hồ Sophie phải cố tình giả bộ là mình không run, cho Michael khỏi lo lắng.

Nửa tiếng sau nữa, Michael nói, “Tháng Năm không phải đúng tháng sao rơi. Tháng Tám hay Tháng Mười Một mới là tốt nhất.”

Nữa tiếng sau đó, Michael lo lắng hỏi, “Mình làm gì với cái rễ cây bây giờ?”

“Để xong phần này rồi mình lo tiếp,” Sophie đáp, cắn chặt răng trả lời, e là chúng sẽ đập lộp cộp vào nhau.

Một lúc sau Michael nói, “Sophie, bà đi về đi. Dù sao đây cũng là thần chú của cháu.”

Sophie há miệng định nói ý kiến hay đó, khi một ngôi sao rơi ra khỏi bầu trời và phóng xuống đất thành một vệt trắng dài. “Nó rơi kìa!” Sophie hét lên.

Michael nhanh chóng nhảy vào trong giày và biến mất. Sophie nắm chặt cây gậy và một giây sau cũng biến. Zip! Bũm. Xuống đầm lầy phía xa đầy sương mù, không gian trống trơn và hồ nuớc lập lờ mọi hướng. Sophie cắm cây gậy vào mặt đất và cố đứng vững. Giày bảy dặm của Michael chỉ là một vết đen thui bên cạnh cô. Bản thân cậu bé chạy tung tóe điên cuồng trên bãi nước trước mặt.

Và kia là ngôi sao rơi. Sophie có thể thấy nó, một ngọn lửa màu trắng chỉ vài bước trước cái hình bóng đang chạy của Michael. Ngọn lửa sáng đang rơi chậm lại, và Michael có vẻ sẽ chụp được nó.

Sophie kéo chân ra khỏi đôi giày. “Nhanh nào, gậy!” cô khò khè. “Đưa ta đến đó!” Và cô chạy lạch bạch thật nhanh, lướt qua những bụi cỏ và loạng choạng nhảy qua những vũng nước nhỏ, đôi mắt dán chặt vào ánh sáng trắng tinh đó.

Khi cô đến gần, Michael đang khẽ khàng bước từng bước nhẹ đến ngôi sao, hai tay giơ ra đón. Sophie có thể nhìn thấy đường nét thân hình cậu lấp lánh với ánh sáng của ngôi sao. Nó bay lững lờ vào trong tay Michael và chỉ cách một buớc chân. Sinh vật đó nhìn cậu lo sợ. Kỳ lạ! Sophie nghĩ. Nó được làm bằng ánh sáng, tỏa màu trắng sáng rực lên cỏ, sậy, và hồ nước đen xung quanh Michael, nhưng đôi mắt tròn xoe trên gương mặt nhọn đang kinh hãi nhìn Michael.

Sự xuất hiện của Sophie làm ngôi sao hoảng hốt. Nó chập choạng nhào xuống và hét lên giọng đinh tai, “Cái gì đây? Mấy người muốn gì?”

Sophie muốn nói với Michael, Ngừng lại đi – nó đang sợ! Nhưng cô không còn hơi sức để mà mở miệng.

“Tôi chỉ muốn chụp cậu lại thôi mà,” Michael giải thích. “Tôi không làm hại cậu đâu.”

“Không! Không!” ngôi sao hét lên kinh hoàng. “Không được đâu! Tôi phải chết!”

“Nhưng tớ sẽ cứu cậu nếu cậu để tớ cho bắt,” Michael nói nhẹ nhàng.

“Không!” ngôi sao thét. “Tôi thà chết!” Nó vuột khỏi bàn tay Michael. Michael nhảy chộp tới, nhưng nó nhanh hơn cậu nhiều. Nó phóng tới cái đầm lầy gần nhất, hồ nước đen phụt lên thành màu trắng huy hoàng chỉ trong một giây. Và rồi dịu xuống thành tiếng xèo xèo chết chóc. Khi Sophie đến gần, Michael đang đứng sững nhìn tia sáng cuối cùng tỏa ra từ chỗ trồi lên trên mặt nước đen.

“Thật là đáng buồn,” Sophie nói.

Michael thở dài. “Đúng. Cháu cũng mất cả tinh thần rồi. Mình về thôi. Cháu không thèm thần chú nữa.”

Hai người phải mất gần hai mươi phút để tìm đôi giày. Sophie nghĩ tìm thấy chúng cũng thật là một phép lạ.

“Bà biết không,” Michael nói, khi cả hai đồng hành trên đại lộ tối đen của Porthaven, “cháu có thể thấy rằng mình sẽ không bao giờ làm được câu thần chú này hết. Nó quá cao siêu cho cháu. Cháu phải hỏi anh Howl thôi. Dù không thích bỏ cuộc, nhưng ít nhất là lần này ảnh sẽ trả lời đàng hoàng vì Lettie Hatter đã ưng ảnh rồi.”

Điều này không làm Sophie vui lên chút nào.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 4:47 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 10
Calcifer hứa với Sophie sẽ cho một gợi ý


Howl có lẽ đã trở về khi Sophie và Michael ở bên ngoài. Anh bước ra ngoài phòng tắm khi Sophie đang nấu bữa sáng trên mình Calcifer, phong phong nhã nhã ngồi xuống ghế, bảnh bao, sạch sẽ, chói lòa và thơm nức mũi mùi kim ngân hoa.

“Sophie yêu quý,” anh cất tiếng. “Lúc nào cũng lăng xa lăng xăn. Hôm qua bà làm việc chăm chỉ lắm há, phải không, bất chấp lời khuyên của tôi? Tại sao bà lại xé tan nát bộ cánh đẹp nhất của tôi vậy? Chỉ hỏi thăm thân mật chút xíu thôi.”

“Hôm nọ cậu làm cho nó dính đầy nhớt,” Sophie đáp. “Tôi phải cắt ra làm lại.”

“Tôi có thể làm được,” Howl trả lời. “Tôi tưởng đã cho bà thấy rồi chứ. Tôi cũng có thể làm cho bà một đôi giày bảy dặm nếu bà cho tôi số đo. Có lẽ bằng một cái gì thực tế như da bò chẳng hạn. Thật là kỳ lạ một người có thể đi một bước bảy dặm mà vẫn giẫm phải phân bò.”

“Có thể là phân trâu chứ bộ,” Sophie nói. “Tôi dám nói cậu tìm thấy bùn từ đầm lầy trên giày luôn. Một người ở tuổi tôi cần phải tập thể dục thường xuyên.”

“Vậy là bà còn bận rộn hơn là tôi tưởng tượng nữa,” Howl mỉa mai. “Bởi vì khi tôi vừa mới rời mắt khỏi gương mặt xinh đẹp của Lettie một giây phút thôi, tôi có thể thề là đã thấy cái mũi dài của bà chĩa ra từ góc tường.”

“Bà Fairfax là một người bạn cũ,” Sophie đáp. “Làm sao tôi biết được là cậu đến đó chứ?”

“Bà có năng khiếu. Đó là tại sao,” Howl trả lời. “Không gì có thể yên lành với bà. Nếu tôi mà đeo theo một cô gái sống trên tảng băng giữa đại dương, sớm hay muộn – có lẽ là sớm – tôi sẽ nhìn lên và thấy bà đang cưỡi cây chổi lơ lửng trên trời. Thật ra, đến giờ thì có lẽ tôi sẽ thất vọng nếu không thấy bà đó.”

“Cậu đi đến tảng băng hôm nay hả?” Sophie trả miếng. “Nhìn khuôn mặt của Lettie hồi hôm qua thì không còn gì giữ cậu trở lại hết!”

“Bà làm tôi tổn thương, Sophie,” Howl đáp. Giọng anh có vẻ đau buồn lắm. Sophie nghi ngờ ngoảnh đầu lại. Cạnh bông tai màu đỏ đang nhảy nhót trên tai Howl, gương mặt trông nghiêng của anh thật buồn bã, và cao quý. “Nhiều năm tháng sẽ trôi qua trước khi tôi rời khỏi Lettie,” anh nói. “Và thật ra hôm nay tôi đi gặp Đức Vua lần nữa. Hài lòng chưa, bà Mũi Dài?”

Sophie không tin một lời của Howl, dù chắc chắn Kingsbury, với cánh cửa vặn màu đỏ xuống, là nơi Howl biến đi sau bữa sáng, tay xua xua Michael tránh qua khi Michael định hỏi anh về câu thần chú khó hiểu. Michael, vì không còn gì để làm, cũng đi luôn. Cậu nói là đi Cesari’s thì tốt hơn.

Sophie bị bỏ một mình. Cô không vẫn chưa thực sự tin những gì Howl nói về Lettie, nhưng cô đã phán đoán sai lầm về anh trước đây, và cô chỉ mới biết về Howl qua những lời của Michael và Calcifer thôi. Cô lượm lại tất cả những mảnh vải hình tam giác và bắt đầu khâu chúng lại vào trong cái lưới đánh cá là phần còn sót lại của bộ áo. Khi có người đập cửa, cô mất hết cả hồn vía, nghĩ rằng lại là con bù nhìn nữa.

“Cửa Porthaven,” Calcifer nói, cái miệng tím bầm nhe ra cười gian ác.

Vậy là sẽ không sao. Sophie lê chân lạch bạch đi mở cửa, xanh dương xuống. Bên ngoài là một cái xe ngựa. Một chàng trai trẻ cỡ năm chục tuổi đang điều khiển xe và hỏi Phù Thủy Phu Nhân có thứ gì làm cho ngựa không phải thay gót hòai không.

“Để tôi xem,” Sophie trả lời. Cô lạch bạch đến bếp. “Tôi phải làm gì?” cô thầm thì.

“Bột vàng, hũ thứ tư trên kệ thứ hai,” Calcifer cũng thì thầm trả lời. “Mấy cái thần chú đó chỉ cần niềm tin. Đừng có lộ vẻ nghi ngờ khi đưa cho ông ta.”

Sophie đổ chất bột màu vàng vào tờ giấy nhỏ hình vuông theo cách Michael đã làm, gói lại, và bước đến cửa. “Đây nè cậu trai,” cô nói. “Nó sẽ dính chặt vào móng hơn cả trăm cây đinh. Nghe ta nói không, ngựa? Ngươi sẽ không cần gặp thợ rèn cho hơn một năm. Đó là một xu, cám ơn.”

Đó là một ngày khá bận rộn. Sophie phải bỏ chỗ khâu vá xuống và bán, với sự giúp đỡ của Calcifer, thần chú để thông ống cống, để bắt dê, và một cái nữa để nấu beer ngon. Người duy nhất gây rắc rối cho cô là một người khách đập cửa thình thịch ở Kingsbury. Sophie mở ra với màu đỏ xuống để thấy một cậu trai ăn mặc sang trọng, không già hơn Michael bao nhiêu, mặt trắng bệch và đẫm mồ hôi, siết chặt tay trên ngưỡng cửa.

“Pháp Sư Phu Nhân, xin tội nghiệp cháu với!” cậu nói. “Cháu phải đấu kiếm vào bình minh ngày mai. Xin cho cháu thứ gì để đảm bảo thắng lợi. Cháu sẽ trả bất cứ giá nào!”

Sophie quay cổ để ngó Calcifer, và Calcifer nhăn mặt lại, nghĩa là không có thứ gì như thế đã làm sẵn. “Như thế thực là không công bằng,” Sophie nghiêm nghị bảo cậu. “Hơn nữa, đấu kiếm là sai trái.”

“Vậy xin cho cháu thứ gì để có cơ hội bằng người ta!” cậu trai van xin.

Sophie nhìn cậu bé. Cậu ta rất nhỏ con và rõ ràng đang rất sợ hãi. Cậu có vẻ tuyệt vọng của một người luôn luôn thua cuộc trong mọi thứ. “Tôi sẽ xem lại,” Sophie nói. Cô lạch bạch đi đến kệ và lần tìm các chai lọ. Cái chai màu đỏ khắc chữ ỚT CAYENNE có lẽ là đúng nhất. Sophie đổ thật nhiều bột trong đó ra mảnh giấy vuông. Sau đó, cô đặt gói bột cạnh đầu lâu. “Bởi vì cậu phải biết cái này hơn tớ,” cô lẩm bẩm. Cậu thanh niên đang dựa cửa nhìn bà đầy lo lắng. Sophie cầm một con dao và hươ hươ như đang làm phù phép trên bột ớt vậy. “Ngươi sẽ giúp tạo một cơ hội thi đấu công bằng,” cô lầm bầm. “Đấu công bằng. Hiểu chưa?” Cô gói giấy lại và lạch bạch đến cửa. “Quẳng chất này lên không khí khi bắt đầu thi đấu,” cô nói với cậu trai nhỏ thó, “và nó sẽ cho cậu một cơ hội bằng với người kia. Sau đó, thắng hay thua là tùy cậu.”

Cậu thanh niên biết ơn đến độ cậu muốn đưa cho cô một đồng tiền vàng. Sophie từ chối, nên cậu đưa cho cô hai đồng xu thay thế, và vừa đi vừa vui vẻ huýt sáo inh ỏi. “Tôi thấy như đã lường gạt người ta,” Sophie nói khi đặt tiền dưới hòn gạch cạnh bếp lửa. “Nhưng tôi muốn đến coi cái vụ đánh nhau đó.”

“Tớ cũng thế!” Calcifer cười lớn. “Chừng nào bà mới chịu thả tôi ra để tôi đi xem mấy chuyện vui như thế chứ?”

“Khi tôi có được một gợi ý về cái hợp đồng này,” Sophie nói.

“Vậy thì bà sẽ có một cái vào buổi chiều nhe,” Calcifer đáp.

Michael trở về khi buổi chiều gần tàn. Cậu lo lắng nhìn quanh chắc là Howl vẫn chưa về nhà trước và đến chỗ bàn làm việc, bày đồ đạc ra để trông có vẻ là cậu đã bận rộn cả ngày, miệng hát vui vẻ khi làm thế.

“Tôi thấy ghen tị với cậu có thể đi bộ cả quãng đường thật dễ dàng,” Sophie nói, khâu mảnh vải xanh vào bằng chỉ bạc.

“Ma – Mà cháu tôi thế nào rồi?”

Michael vui vẻ rời khỏi bàn làm việc và ngồi trên ghế xếp cạnh lò sưởi để kể cho cô nghe về ngày của cậu. Rồi cậu hỏi về ngày của Sophie. Kết quả là khi Howl dùng vai đẩy cửa bước vào, hai cánh tay ôm đầy hộp giấy, Michael không còn giả bộ làm việc chăm chỉ. Cậu ôm bụng cười sằng sặc trên ghế xếp về cái thần chú đánh nhau.

Howl dùng lưng đẩy cửa đóng sập lại và dựa vào đó trong một thái độ thê lương. “Nhìn kìa mọi người!” anh nói. “Sự suy đồi đang ở trước mặt tôi. Tôi đầu tắt mặt tối cả ngày vì ai. Mà không một ai, kể cả Calcifer, có một chút giờ rảnh để nói xin chào!”

Michael bật dậy vẻ có lỗi và Calcifer trả lời, “Tớ có bao giờ nói xin chào đâu.”

“Có chuyện gì xảy ra hả?” Sophie hỏi.

“Tốt hơn rồi,” Howl nói. “Cuối cùng cũng có người giả bộ chú ý đến tôi. Cám ơn bà đã hỏi thăm, Sophie. Vâng, có chuyện xảy ra. Nhà Vua đã chính thức truyền cho tôi phải tìm em của ổng – với một gợi ý mạnh mẽ là nên tiện tay tiêu diệt Phù Thủy vùng Hoang Phế luôn – mà mấy người thì ngồi đó mà cười!”

Bây giờ rõ ràng là Howl đang trong tình trạng có thể chảy nhớt xanh ra bất cứ lúc nào. Sophie nhanh chóng để bộ áo đang khâu qua một bên. “Tôi sẽ nướng vài miếng bánh mì phết bơ,” cô nói.

“Bà chỉ làm được như thế khi đối diện thảm kịch hay sao?” Howl hỏi. “Nướng bánh! Không, xin đừng ngồi dậy. Tôi lê về đây với đồ vật cho bà, nên ít nhất là bà có thể giả bộ thích thú. Nè,” Anh tuôn một đống hộp vào trên đùi Sophie và đưa một cái cho Michael.

Hoang mang, Sophie mở hộp ra: vài đôi vớ dài lụa; hai hộp váy lót bằng vải lanh mịn tốt nhất, viền ren, đăng ten, và nơ satin; một đôi giày da màu xám; khăn choàng ren; và một áo đầm lụa màu xám viền ren hợp với cái khăn choàng. Sophie đo lường chúng bằng con mắt nghề nghiệp và há miệng kinh ngạc. Dải ren không là đã trị giá một gia tài. Cô vuốt ve vải lụa trên áo, thán phục.

Hộp của Michael là một bộ quần áo nhung mới toanh. “Anh đã xài hết tất cả trong cái túi lụa rồi chứ gì!” cậu nói không biết ơn chút nào. “Em không cần đâu. Anh mới là người cần áo mới.”

Giày của Howl móc cái phần còn lại của bộ cánh xanh bạc và rầu rĩ giơ nó lên. Sophie đã làm việc cần mẫn, nhưng nó vẫn còn nhiều lỗ hơn là áo. “Thấy tôi hi sinh chưa,” anh nói. “Nhưng tôi không thể đưa cậu và Sophie đi làm ô danh tôi cho Đức Vua trong quần áo rách rưới. Đức vua sẽ nghĩ là tôi không chăm sóc cho mẹ già của tôi kỹ lương. Well, Sophie? Mấy chiếc giày có đúng cỡ không?”

Sophie ngừng việc vuốt ve sùng kính và ngước nhìn lên. “Cậu rất tốt,” cô nói, “hay rất hèn nhát? Cám ơn nhiều và tôi sẽ không đi.”

“Thật là vô ơn!” Howl kêu lên, hai cánh tay giang ra. “Hãy có nhớt xanh nữa nào! Sau đó tôi buộc phải dời tòa lâu đài ngàn dặm khỏi nơi đây và không bao giờ nhìn thấy nàng Lettie xinh đẹp nữa!”

Michael nhìn Sophie cầu khẩn. Sophie quắc mắt nhìn. Cô thấy rõ ràng niềm hạnh phúc của hai người em dựa vào việc cô đồng ý đi gặp Đức Vua. Và nhớt xanh còn trong dự trữ. “Cậu vẫn chưa hỏi tôi làm gì hết,” cô nói. “Cậu chỉ nói tôi sẽ đi.”

Howl mỉm cười. “Và bà sẽ đi, có phải không?”

“Được rồi. Chừng nào cậu muốn tôi đi?” Sophie hỏi.

“Trưa mai,” Howl đáp. “Michael sẽ đi theo làm người hầu. Nhà Vua đang đợi bà.” Anh ngồi trên ghế và bắt đầu giải thích rất rõ ràng và bình tĩnh những gì Sophie sẽ nói. Sophie chú ý, khi bây giờ mọi việc đều theo ý Howl, thì không còn một chút dấu hiệu của việc chảy nhớt xanh. Cô muốn tát một cái vô mặt anh chàng. “Tôi muốn bà đi làm một việc rất tinh tế,” Howl giải thích, “để Đức Vua vẫn tiếp tục cho tôi làm mấy cái thần chú di hành, nhưng không tin tưởng tôi với mấy việc như là đi tìm em ổng. Bà phải kể ông ta nghe tôi đã làm Phù Thủy vùng Hoang Phế giận dữ thế nào và thanh minh rằng tôi là một đứa con hiếu thảo, nhưng tôi muốn bà nói để ổng hiểu là trong các việc khác thì tôi rất vô dụng.”

Howl giảng giải rất chi tiết. Sophie chấp hai tay lại quanh mấy cái hộp và cố gắng lắng nghe, mặc dù cô không thể không nghĩ, Nếu tôi là Đức Vua, tôi sẽ không hiểu một chữ mà bà già đang nói!

Trong lúc ấy, Michael đang lăn xăn quanh khuỷ tay Howl, cố hỏi anh về câu thần chú khó hiểu. Howl vẫn nghĩ đến những chi tiết mới, tinh tế hơn để nói với Đức Vua và xua xua Michael đi. “Lát nữa đã, Michael. Và tôi vừa mới nghĩ ra, Sophie, là bà cần phải tập luyện để không thấy khớp trong lâu đài. Chúng ta không muốn bà ứng xử kỳ quặc trong buổi nói chuyện. Chưa được, Michael. Vì vậy nên tôi sắp xếp cho bà đến thăm giáo sư cũ của tôi, bà Pentstemmon. Bà là một người vĩ đại. Nhiều lúc bà còn vĩ đại hơn cả Đức Vua. Nên bà sẽ quen với mọi việc khi bà đến cung điện.”

Đến lúc này thì Sophie ước gì cô đã không đồng ý. Cô thành thật thở phào nhẹ hõm khi Howl cuối cùng cũng quay qua Michael.

“Được, Michael. Đến phiên cậu. Chuyện gì thế?”

Michael quơ miếng giấy xám và vội vã giải thích những điều không thể làm được trong thần chú này.

Howl khá kinh ngạc khi nghe vậy, nhưng anh cầm tờ giấy, miệng nói, “Có gì rắc rối ở đây?” và giở nó ra. Anh nhìn nó trân trân. Một cái lông mày nhướng lên.

“Em đã thử giải nó thành câu đố, và em thử làm y như nó nói,” Michael giải thích. “Nhưng Sophie và em không thể bắt được sao rơi…”

“Lạy chúa trên cao!” Howl kêu lên. Anh bắt đầu cười lớn, nhưng cắn môi mình để ngừng lại. “Nhưng, Michael, đây đâu phải là thần chú anh cho cậu. Cậu lấy tờ này ở đâu?”

“Trên bàn làm việc, trong đống đồ mà Sophie chất gần đầu lâu,” Michael đáp. “Đó là cái thần chú mới duy nhất ở đó, nên em nghĩ …”

Howl đứng bật dậy và lục lọi những thứ trên bàn làm việc. “Sophie lại phá hoại nữa rồi,” anh nói. Quăng mọi thứ bay lung tung khi anh tìm. “Tôi phải biết chứ! Không, câu thần chú đúng là không ở đây. “Phải bạn không, bạn hiền? Tôi có cảm giác là cậu từ nơi đó đến. Tôi chắc là cây đàn guitar cũng thế. Er – Sophie yêu quý…”

“Gì?” Sophie nói.

“Sophie lăng xăng, lộn xộn,” Howl kéo dài. “Đừng có nói là tôi đã đúng khi nghĩ bà đã vặn nút cửa màu đen xuống và chĩa cái mũi dài qua đó?”

“Chỉ ngón tay thôi,” Sophie trả lời với tất cả phẩm giá của mình.

“Nhưng bà đã mở cánh cửa,” Howl nói, “và cái vật mà Michael nghĩ là thần chú đã bay vào. Chẳng lẽ hai người không ai thấy là cái này không như những cái thần chú thường gặp sao?”

“Thần chú thường kỳ quặc mà,” Michael đáp. “Nó là cái gì thế?’

Howl khịt mũi. “ ‘Quyết định xem đây nói về gì. Và tự mình viết vế thứ hai!’ Thánh thần ơi!” anh nói và chạy lên cầu thang. “Để tôi chỉ cho,” anh kêu lên với mỗi bước chân nện thình thịch.

“Vậy là mình đã tốn thời gian chạy vòng quanh đầm lầy vô ích,” Sophie nói. Michael gật đầu thê thảm. Sophie có thể thấy là cậu đang cảm thấy ngu ngốc. “Đó là lỗi của tôi,” cô nói. “Tôi đã mở cửa.”

“Ở bên ngoài là cái gì vậy?” Michael tò mò hỏi.

Nhưng Howl đã chạy vụt xuống cầu thang lúc đó. “Rốt cuộc tôi cũng không có quyển sách đó,” anh nói. Bây giờ anh có vẻ giận dữ. “Michael, có phải anh nghe cậu nói cậu đi bắt ngôi sao sa không?”

“Dạ đúng, nhưng nó rất sợ hãi và nhảy vào trong hồ và chết đuối,” Michael nói.

“Cảm tạ ơn Chúa vì thế!” Howl đáp.

“Cảnh đó buồn lắm,” Sophie nói.

“Buồn, hả?” Howl gằn giọng, càng giận dữ hơn. “Đó là ý tưởng của bà, phải vậy không? Đúng vậy rồi! Tôi có thể thấy bà đang nhảy quanh đầm lầy, khuyến khích cậu ta! Để tôi nói với bà, đó là việc ngu ngốc nhất mà cậu ta đã làm trong đời. Cậu ta sẽ còn thê thảm hơn là buồn nếu bắt được vật đó! Và bà …”

Calcifer chớp sáng. “Cái gì ầm ĩ ở đây thế?” hỏa yêu tra hỏi. “Cậu cũng bắt được một con mà, đúng không?”

“Đúng, và tớ…!” Howl bắt đầu, trừng đôi mắt thủy tinh lên mình Calcifer. Nhưng anh tự kềm mình lại được và quay qua nói với Michael. “Michael, hứa với anh là không được đi bắt sao nữa.”

“Em hứa,” Michael dễ dàng nói. “Và bài thơ đó là gì, nếu không phải là thần chú?”

Howl nhìn xuống tờ giấy xám trong tay. “Nó tên là ‘Bài Hát’ – và nó là như vậy, tôi đoán. Nhưng đây không phải toàn bài và anh không nhớ phần tiếp theo.” Anh đứng yên và ngẫm nghĩ, như chợt nghĩ ra một ý tưởng mới, và rõ ràng nó làm anh lo lắng. “Anh nghĩ vế tiếp theo rất quan trọng,” anh nói. “Tốt hơn tôi nên đem nó về và xem…” Anh đến cửa và vặn nút màu đen xuống. Rồi anh ngừng lại. Anh quay mình nhìn thấy Michael và Sophie, tự nhiên đang đứng nhìn trân vào nút vặn. “Được rồi,” anh nói. “Tôi biết Sophie sẽ tìm cách luồn qua nếu tôi bỏ bà lại, và điều đó không công bằng với Michael. Lại đây, hai người, để tôi có thể canh chừng cả hai.”

Anh mở cánh cửa đến hư không và bước vào trong đó. Michael muốn vấp té khi nhanh chóng chạy theo. Sophie cũng đẩy tung tóe mấy cái hộp khi cô đứng dậy. “Đừng có bắn tia lửa vào chúng đó!” cô vội vã nói với Calcifer.

“Nếu bà hứa kể cho tôi cái gì ở đó,” Calcifer trả lời. “Bà đã có gợi ý rồi đó.”

“Vậy sao?” Sophie đáp. Cô quá vội vã để mà hỏi thêm.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 4:49 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 11
Howl đến một đất nước kỳ lạ để tìm thần chú

Hư không hóa ra cũng chỉ dày một inch thôi. Phía sau nó, trong buổi chiều u ám, mưa rơi lắc rắc, là con đường xi-măng dẫn tới một cánh cổng vườn. Howl và Michael đang đứng đợi ở cổng. Phía xa hơn là một con đường bằng phẳng, cứng cáp với dãy nhà đứng hai bên. Sophie nhìn trở lại nơi cô vừa bước ra, hơi run trong cơn mưa, và nhìn thấy tòa lâu đài biến thành một ngôi nhà gạch màu vàng với nhiều cửa sổ lớn. Như những ngôi nhà khác, nó có hình hộp mới toanh, cửa chính làm bằng kính dợn sóng dầy cộm. Không có ai bên ngoài các ngôi nhà. Có thể là vì họ đã đi tránh mưa, nhưng Sophie có một cảm giác, mặc dù có rất nhiều nhà cửa, nơi này thực chất là ngoại ô của một thành phố.

“Chừng nào bà xong việc chĩa mũi dài,” Howl gọi. Bộ áo xám đỏ bị mưa làm thấm ướt. Trên tay anh cầm lủng lẳng một chùm chìa khóa kì lạ, hầu hết đều phẳng lì, vàng vàng, và trùng màu với mấy ngôi nhà. Khi Sophie xuống đường, anh nói, “Ta cần phải đổi trang phục để hợp với chỗ này.” Quần áo anh mờ đi, như thể cơn mưa phùn xung anh trở thành sương mù. Khi mọi thứ trở lại rõ ràng, nó vẫn là bộ áo xám đỏ, nhưng mang hình dạng khác. Hai tay áo dài đã biến mất và bộ quần áo có vẻ rộng lùng thùng. Nó trông có vẻ cũ kỹ và xoàng xĩnh.

Áo jacket của Michael ngắn lên đến eo. Cậu giơ chân lên, một đôi giày bằng vải bạt ở chân, và ngó vào hai ống quần xanh dương bao quanh chân cậu. “Khó cử động chân quá đi,” cậu nói.

“Cậu sẽ quen thôi,” Howl nói. “Đi nào Sophie.”

Sophie ngạc nhiên khi Howl dẫn đường trở lại con đường qua vườn trở lại ngôi nhà màu vàng. Trên lưng áo jacket lụng thụng của anh, cô thấy, có dòng chữ bí ẩn trên đó: WELSH RUGBY. Michel theo sau Howl, tướng đi khá cứng ngắc vì những vật trên chân. Sophie nhìn xuống mình và thấy phần chân gầy được lộ ra gấp hai lần bình thường trên đầu gối. Nhưng những cái khác về cô thì không thay đổi.

Howl dùng chìa khóa mở một cánh cửa kính. Nó có miếng gỗ lúc lắc bên cạnh trên chùm chìa khóa. RIVENDELL, Sophie thoáng thấy, khi Howl đẩy cô vào bên trong một hành lang nhỏ, sạch sẽ. Dường như đang có người ở trong nhà. Âm thanh ầm ĩ phát ra từ sau cánh cửa gần nhất. Khi Howl mở cánh cửa, Sophie nhận ra những tiếng nói đó phát ra từ những hình ảnh màu có phép thuật đang chuyển động trong một cái hộp to lớn.

“Howell!” người phụ nữ đang ngồi đan áo thốt lên.

Cô đặt áo xuống, trông có vẻ hơi bực mình, nhưng trước khi cô đứng dậy, một đứa bé gái, đang nghiêm túc ngồi xem hình ảnh ma thuật với hai tay đặt trên má, ngồi bật dậy và nhào đến Howl. “Cậu Howell!” cô bé hét lên, và nhảy chồm lên Howl, hai chân choàng qua người anh.

“Mari!” Howl oang oang trả lời. “Cháu khỏe không, bé yêu? Vẫn ngoan chứ?” Anh và đứa bé gái cùng lúc nói một ngôn ngữ khác, rất nhanh và ồn ào. Sophie có thể thấy hai người rất đặc biệt với đối phương. Cô không biết ngôn ngữ đó. Nó giống như bài hát ngốc nghếch về cái chảo chiên của Calcifer, nhưng thật khó mà khẳng định được. Giữa những tiếng ríu rít của thứ ngôn ngữ mới, Howl cũng xen lẫn vào lời giới thiệu như người đang nói tiếng bụng, “Đây là cháu gái của tôi, Mari, và chị tôi, Megan Parry. Megan, đây là Michael Fisher và Sophie… er…”

“Hatter,” Sophie thêm.

Megan miễn cưỡng bắt tay hai người, tỏ vẻ không ưa gì. Cô ta lớn tuổi hơn Howl, nhưng khá giống anh, khuôn mặt dài, xương xương, nhưng mắt cô màu xanh biếc và lộ nét băn khoăn, tóc cô màu đen sẫm. “Yên lặng nào, Mari!” cô gắt lên chặn ríu rít xa lạ. “Howell, cậu có ở lại lâu không?”

“Chỉ về thăm nhà một chút thôi,” Howl nói, thả Mari xuống đất.

“Gareth còn chưa về,” Megan gằn giọng.

“Đáng tiếc thật! Chúng ta không thể ở lại,” Howl trả lời, miệng nở nụ cười ấm áp giả tạo. “Em chỉ nghĩ sẽ giới thiệu chị với mấy người bạn. Và hỏi chị điều hơi ngốc nghếch này. Neil có làm mất bài tập tiếng Anh nào gần đây không?”

“Thật kỳ lạ là cậu nói thế!” Megan kêu lên. “Thằng bé lùng tìm tờ giấy khắp mọi nơi vào thứ Năm tuần trước! Nó có cô giáo dạy văn mới, và cô đó rất khó khăn, không chỉ về việc đánh vần. Cô ta đe tụi nhỏ phải nộp bài đúng ngày. Cái thằng bé lười biếng đó! Vậy là hôm thứ Năm, tìm bớ cả người lên, nhưng chỉ thấy một tờ giấy cũ kỹ với bài thơ kỳ lạ...”

“Ah,” Howl nói. “Thằng bé làm gì với tờ giấy đó rồi?”

“Chị bảo nó đem nộp cho cô Angorian,” Megain nói. “Để cho cô giáo thấy nó cũng đã cố gắng.”

“Nó có làm vậy không?” Howl hỏi.

“Chị không biết. Hỏi Neil đi. Nó trong phòng với cái máy đó,” Megan nói. “Nhưng em không hỏi được nó nói gì đâu.”

“Đi nào,” Howl nói với Michael và Sophie, cả hai đang trố mắt nhìn căn phòng sáng màu nâu cam. Anh nắm tay Mari, dẫn họ ra khỏi căn phòng và đi thẳng lên lầu. Ngay cả bậc thang cũng trải thảm, màu hồng xanh. Đoàn người do Howl cầm đầu không gây ra tiếng động gì khi đi trên thảm hồng xanh lên cầu thang và vào trong căn phòng trải thảm xanh vàng. Nhưng Sophie không chắc hai cậu bé đang cúi mình ngồi xem mấy cái hộp ma thuật trên bàn lớn cạnh cửa sổ sẽ liếc nhìn ngay cả nếu có một đội quân với đầy đủ kèn trống đi vào. Cái hộp ma thuật chính có kính phía trước như cái ở nhà dưới, nhưng dường như có chữ và sơ đồ nhiều hơn là hình ảnh. Tất cả những cái hộp làm thành một đường dài rải rác cho đến tận chân tường.

“Neil!” Howl kêu.

“Đừng có kêu,” một trong hai đứa trẻ nói. “Nó sẽ mất mạng.”

Nghe tới việc nguy hiểm đến tính mạng, Sophie và Michael lùi dần ra cửa. Nhưng Howl, không có vẻ gì ngại việc giết cháu mình cả, bước đến tường và kéo cái hộp khỏi gốc rễ. Hình ảnh từ màn hình biến mất. Cả hai cậu bé thốt những từ mà Sophie không nghĩ là ngay cả Martha cũng biết. Cậu trai thứ hai quay mặt lại và hét lên, “Mari! Coi chừng anh đó nhe!”

“Lần này đâu phải em. Xí!” Mari hét trả.

Neil quay mình nhiều hơn và liếc nhìn Howl căm ghét. “Khỏe không, Neil?” Howl vui vẻ nói.


“Ai vậy?” cậu trai kia hỏi.

“Ông cậu của tao,” Neil trả lời. Cậu gầm gừ với Howl. Cậu bé có làn da đen thui, lông mày rậm, và vẻ gầm gừ rất có ấn tượng. “Cậu muốn cái gì đây? Gắn dây lại cho cháu.”

“Thật là vui được tiếp đón nồng hậu ở đây!” Howl nói. “Cậu sẽ gắn trả lại khi cháu trả lời cho cậu cái này.”

Neil thở hắt. “Cậu Howell, cháu đang chơi game ngon mà.”

“Trò mới hả?” Howl hỏi.

Cả hai đứa con trai trông vẻ bất mãn. “Không, cái này từ hồi Giáng Sinh,” Neil nói. “Cậu cũng biết bố mẹ lải nhải thế nào về vụ tốn tiền và thời gian với mấy cái vô dụng này. Họ không cho cháu mua cái mới chừng nào đến ngày sinh nhật.”

“Vậy thì dễ thôi,” Howl đáp. “Cháu đã chơi trước rồi thì còn sợ gì nữa, và cậu sẽ hối lộ cháu trò chơi mới …”

“Thật sao?” cả hai hăng hái thốt, và Neil thêm, “Cậu có thể làm một cái nữa mà không có ai có được không?”

“Được. Nhưng cháu phải xem cái này trước và nói với cậu đó là gì,” Howl đưa tờ giấy láng bóng ra trước mặt Neil.

Cả hai cậu trai nhìn vào. Neil phán, “Đó là một bài thơ,” theo cách mà mọi người thường nói, “Đó là con chuột chết.”

“Đó là bài thơ cô Angorian cho bài về nhà làm tuần trước,” cậu bạn kia nói. “Cháu nhớ từ ‘gió’ và ‘vảy cá.’ Nó nói về tàu ngầm.”

Sophie và Michael chớp chớp mắt về cái thuyết mới, thắc mắc tại sao họ lại không đoán ra được. Neil thốt lên, “Hey! Đó là bài tập bị mất tích của cháu. Cậu thấy nó ở đâu? Vậy là cái bài thơ mắc dịch kia là của cậu sao? Cô Angorian nói nó rất thú vị - may cho cháu – và cổ lấy về nhà rồi.”

“Cám ơn,” Howl nói. “Cô giáo sống ở đâu?”

“Cái nhà cạnh tiệm trà của bà Phillips đó. Đường Cardiff,” Neil trả lời. “Chừng nào cậu cho cháu băng mới?”

“Khi nào cháu nhớ phần còn lại của bài thơ,” Howl đáp.

“Không công bằng!” Neil nói. “Cháu không thể nhớ cả phần nằm ở trên đây. Cậu đùa giỡn trên tình cảm của cháu…!” Cậu trai ngừng bặt khi Howl phá lên cười, mò trong túi quần rộng lùng thùng và đưa cho cậu cái túi dẹp. “Cám ơn!” Neil nhiệt thành nói, và không còn gì thêm nữa cậu bé quay trở lại với mấy hộp ma thuật. Howl gắn chùm rễ vào trong tường, cười nhăn răng ra dấu cho Michael và Sophie ra khỏi phòng. Cả hai cậu bé nhanh chóng hòa vào những hành động bí ẩn, trong khi Mari chen vào giữa, và nhìn với ngón tay trong miệng.

Howl nhanh chóng chạy xuống cầu thang hồng xanh, trong khi Michael và Sophie đều lảng vảng trước cửa phòng, thắc mắc về chuyện gì đã xảy ra. Bên trong, Neil đọc lớn. “Bạn đang một lâu đài ma thuật có bốn cánh cửa. Mỗi cánh mở ra một thế giới khác nhau. Trong Thế Giới Thứ Nhất, lâu đài liên tục di chuyển và có thể bị lạc vào nguy hiểm bất cứ lúc nào...”

Sophie nghĩ câu chuyện có vẻ quen quen khi lạch bạch bước xuống cầu thang. Cô thấy Michael đang đứng giữa lưng chừng, vẻ mặt ngượng ngùng. Howl đang đứng dưới chân cầu thang tranh cãi với chị mình.

“Chị nói vậy là nghĩa gì, bán hết sách của em?” cô nghe Howl nói. “Em rất cần một cuốn trong đó. Có phải của chị đâu mà chị bán.”

“Đừng có cắt ngang!” Megan trả lời giọng thấp, dữ dằn. “Nghe kỹ đây! Chị đã nhắc nhiều lần là nơi này không phải kho chứa đồ. Cậu là sự hổ thẹn của chị và Gareth, cứ lang thang trong mấy bộ quần áo lèng phèng, thay vì mua đồ đàng hoàng mà bận như người bình thường, quan biết với mấy người vô công rỗi nghề, đem họ tới nhà này! Bộ cậu muốn kéo chị xuống với cậu hay sao? Đi học cho lắm vào, mà vẫn không kiếm được việc nghiêm túc, chỉ đi lang thang, lãng phí quãng thời gian đi học, lãng phí những sự hi sinh của người khác, lãng phí tiền bạc …”

Megan có thể là đối thủ của dì Fairfax. Giọng cô cứ dông dài bất tận. Sophie bắt đầu hiểu Howl có thói quen trườn đi là do đâu. Megan là loại người làm người ta muốn chuồn nhẹ nhàng ra cửa sau. Không may là lưng Howl bị dồn về phía cầu thang, Sophie và Michael đứng dồn sau lưng.

“… chưa từng làm việc đàng hoàng, chưa từng có công việc làm chị hài lòng, chỉ đem rắc rối cho chị và Gareth, đến đây và chiều con bé Mari đến hư,” Megan lải nhải tiếp tục không ngừng nghỉ.

Sophie đẩy Michael qua một bên và bước thình thịch xuống bậc thềm, trông có vẻ trịnh trọng hết sức. “Đi nào Howl,” cô phán. “Chúng ta phải đi ngay lập tức. Trong khi đứng đây nói chuyện, tiền bạc trôi qua từng phút và các người hầu có lẽ đã đem bán dĩa vàng của ngài. Thật vui được gặp cô,” cô nói với Megan khi bước xuống chân cầu thang, “nhưng chúng tôi phải nhanh chân. Howl là một người rất bận rộn.”

Megan ngậm ngay miệng và ngó Sophie trân trân. Sophie gật đầu chào trịnh trọng và đẩy Howl về phía cánh cửa kính dợn sóng. Mặt Michael đỏ ửng. Sophie nhìn thấy vì Howl quay lưng lại hỏi Megan, “Còn cái xe của em vẫn còn hay là chị đem bán luôn rồi?”

“Cậu là người duy nhất có chìa khóa,” Megan giận dỗi trả lời.

Đó dường như là câu chào tạm biệt. Cánh cửa trước đóng sầm lại và Howl dẫn họ đến nhà kho gần cuối con đường. Howl không nhắc gì đến Megan. Anh nói, khi mở cánh cửa của nhà kho trắng, “Tôi cá là bà cô Văn khó tính có cuốn sách đó.”

Sophie ước gì có thể quên đi phần tiếp theo. Họ bước vào cỗ xe không có ngựa và chạy với tốc độ chóng mặt, tỏa mùi khó chịu, gầm gừ và run bần bật khi nó xông thẳng xuống những con đường dốc nhất mà Sophie từng thấy – dốc sâu đến nỗi cô không biết làm sao mà những ngôi nhà hai bên không trượt tuốt xuống dưới. Cô nhắm mắt lại và nắm chặt tay vào mảnh vải ghế bị bung ra và nguyện cầu cho chuyến đi mau qua.

May mắn thay, chuyến đi kết thúc nhanh chóng. Họ ngừng trên một con đường thẳng hơn, với nhà chen chúc hai bên, cạnh một cánh cửa lớn có màn trắng và tờ giấy viết, ĐÓNG CỬA. Nhưng, mặc kệ tờ giấy thông báo đó, khi Howl bấm một cái nút bên cánh cửa, cô Angorian trả lời. Họ đều nhìn trân trân vào cô. Cho một cô giáo khó tính, cô Angorian trông rất trẻ, mảnh mai và xinh đẹp. Mái tóc đen dài xõa quanh khuôn mặt hình trái tim, và đôi mắt to láy. Điều duy nhất nhắc nhở tính khó khăn của cô là cách đôi mắt to nhìn thẳng thông minh và dường như đang phán đoán họ.

“Tôi đoán anh là Howell Jenkins,” cô Angorian nói với Howl. Giọng cô trầm như âm nhạc có vẻ thách thức và tự tin.

Howl bị giật mình trong giây lát. Rồi nụ cười mở ra. Và đó, Sophie tự nghĩ, là lời vĩnh biệt những giấc mơ đẹp của Lettie và dì Fairfax. Vì cô Angorian chính là loại con gái mà người như Howl có thể yêu ngay lập tức. Và không chỉ Howl, Michael cũng đang nhìn cô ngưỡng mộ. Và dù tất cả những ngôi nhà xung quanh đều có vẻ hoang vắng, Sophie biết rõ chúng đầy những người biết cả Howl và cô Angorian và đang nhìn vẻ tò mò thích thú coi việc gì sẽ xảy ra. Cô có thể thấy những đôi mắt vô hình của họ. Market Chipping cũng giống như vậy thôi.

“Và cô hẳn là cô Angorian,” Howl đáp. “Xin lỗi vì đã làm phiền cô, nhưng tuần trước tôi đã gây ra một lỗi lầm ngu ngốc và đem bài tập của cháu tôi đi thay vì tờ giấy quan trọng của tôi. Tôi đồ rằng Neil nộp cho cô tờ đó để chứng tỏ cháu không lười nhất.”

“Đúng vậy,” cô Angorian nói. “Anh có thể vào và lấy lại nó.”

Sophie chắc chắn mấy cặp mắt vô hình đang căng ra và mấy cái cổ vô hình chĩa dài khi Howl, Michael và cô đi theo sau cánh cửa của cô Angorian, lên một cầu thang lớn vào căn phòng nhỏ, khiêm nhường của cô Angorian.

Cô Angorian tế nhị nói với Sophie, “Mời bà ngồi.”

Sophie vẫn còn run sau vụ cỗ xe không ngựa đó. Cô vui sướng ngồi bệch xuống một trong hai cái ghế. Nó không được thỏai mái lắm. Phòng của cô Angorian không được thiết kế làm chỗ nghỉ ngơi mà thành nơi nghiên cứu. Dù nhiều đồ vật trong phòng rất kỳ lạ, Sophie hiểu được những cuốn sách đầy trên tường, và hàng đống giấy trên bàn, và hộp hồ sơ xếp trên sàn. Cô ngồi nhìn Michael đang bẽn lẽn ngó mọi thứ và Howl bắt đầu mở màn.

“Làm sao mà cô biết tôi là ai?” Howl duyên dáng hỏi.

“Anh đã gây ra rất nhiều lời đồn trong thành phố này,” cô Angorian đáp, bận rộn tìm kiếm sấp giấy trên bàn.

“Và những người nhiều chuyện đó nói gì với cô?” Howl hỏi. Anh uể oải dựa trên góc bàn và cố thu hút ánh mắt cô Angorian.

“Một, là anh đến và đi rất bất ngờ,” cô Angorian đáp.

“Còn gì nữa?” Howl dõi theo từng cử động của cô Angorian với một cái nhìn mà Sophie biết cơ hội duy nhất còn lại cho Lettie là cô giáo cũng yêu Howl ngay tắp lự.

Nhưng Angorian không phải là loại con gái đó. Cô nói, “Còn nhiều điều nữa, không có câu nào khen anh hết,” và liếc nhìn Michael làm cậu đỏ mặt, và rồi nhìn Sophie như thể nói những điều đó không thích hợp cho họ nghe. Cô giáo cầm tờ giấy ố vàng đưa cho Howl. “Là tờ này,” cô nói nghiêm khắc. “Anh biết đó là gì không?”

“Dĩ nhiên,” Howl đáp.

“Vậy làm ơn nói tôi biết,” cô Angorian nói.

Howl cầm tờ giấy. Có một chút giành giựt khi anh tiện thể cố nắm tay cô Angorian. Cô Angorian thắng cuộc và giấu tay mình sau lưng. Howl nở nụ cười làm tan chảy cả đá và truyền tờ giấy cho Michael. “Cậu nói đi,” anh nói.

Khuôn mặt đỏ ửng của Michael bừng sáng khi vừa nhìn thấy nó. “Đó là câu thần chú! Oh, em có thể làm được cái này… để phóng lớn có phải không?”

“Tôi cũng nghĩ vậy,” cô Angorian nói vẻ buộc tội. “Tôi muốn biết anh làm gì với cái đó.”

“Cô Angorian,” Howl đáp, “nếu cô đã nghe những lời đồn đãi về tôi, cô hẳn biết là tôi viết luận án tiến sĩ của tôi về bùa mê và thần chú. Cô nhìn như thể là nghi tôi làm ma thuật vậy! Tôi xin khẳng định là tôi chưa từng làm thần chú như thế.” Sophie không thể không khì mũi một cái trước lời nói dối rành rành đó. “Tôi xin thề trên tim tôi,” Howl thêm, không quên liếc Sophie một cái sắc như dao, “câu thần chú này để nghiên cứu mà thôi. Rất cổ và hiếm có. Đó là tại sao tôi muốn lấy nó lại.”

“Well, anh đã lấy lại rồi đó,” Angorian nhanh chóng nói. “Trước khi về, anh có thể trả lại bài tập kia được không? Photocopies rất tốn tiền.”

Howl sẵn sàng đưa ra tờ giấy nâu láng và cố tình giữ nó khỏi tầm với. “Bài thơ này,” anh nói. “Nó làm tôi thắc mắc. Ngốc thật đó! – nhưng tôi không thể nhớ hết phần còn lại của nó. Của Walter Raleigh, phải không?”

Cô Angorian liếc anh coi thường. “Dĩ nhiên không. Bài đó của John Donne và rất nổi tiếng. Tôi có một cuốn sách ở đây, nếu anh muốn tra lại.”

“Làm ơn,” Howl nói, và từ cách mà mắt anh dõi theo cô Angorian khi cô bước đến bức tường đầy sách, Sophie nhận ra đây là lý do thật sự mà Howl đến vùng đất lạ này. Nhưng Howl cũng không ngại một đá ném hai chim. “Cô Angorian,” anh van vỉ, mắt dán chặt vào thân hình cô khi cô với tay lấy cuốn sách, “cô có thể cho tôi cơ hội được mời cô đi ăn tối nay không?”

Cô Angorian lập tức quay lại với cuốn sách lớn trong tay, và có vẻ nghiêm khắc hơn bao giờ. “Tôi sẽ không,” cô nói. “Anh Jenkins, tôi không biết anh đã nghe những gì về tôi, nhưng anh hẳn nghe là tôi vẫn còn đính hôn với Ben Sullivan…”

“Chưa từng nghe tên đó,” Howl đáp.

“Hôn phu của tôi,” cô Angorian trả lời. “Anh ấy mất tích vài năm trước. Anh có muốn tôi đọc bài thơ cho anh không?”

“Xin làm ơn,” Howl nói, không có vẻ gì hối lỗi. “Cô có giọng rất hay.”

“Vậy thì tôi đọc đoạn thứ hai,” cô Angorian nói, “vì anh đã có đoạn thứ nhất trong tay rồi.” Cô đọc rất hay, không chỉ biểu cảm, nhưng còn làm cho đoạn hai vần với đoạn một, mà theo ý của Sophie thì không hiểu gì cả:

“Nếu mắt anh bẩm sinh kỳ lạ,
Thấy những điều vô hình vô tướng,
Trải qua mười ngàn ngày đêm
Đến khi tuổi già điểm trắng tóc.
Khi trở về, xin nói với tôi
Những điều kỳ diệu đã qua,
Và thề
Không đâu
Có cô gái xinh đẹp một lòng.

Nếu anh…”

Gương mặt Howl trở nên trắng bệch. Sophie có thể nhìn thấy mồ hôi rơi lộp độp trên trán anh. “Cám ơn,” anh nói. “Xin ngừng. Tôi sẽ không làm phiền cô đọc nữa. Ngay cả cô gái tốt cũng không thật lòng trong vế cuối, đúng không? Tôi nhớ lại rồi. Ngốc thật. Tất nhiên là John Donne.” Cô Angorian hạ quyển sách xuống và ngó anh. Anh miễn cưỡng nở nụ cười. “Chúng tôi phải đi thôi. Cô có chắc không đổi ý kiến về bữa tối chứ?”

“Không,” cô Angorian đáp. “Anh có khỏe không, anh Jenkins?”

“Rất khỏe,” Howl vừa nói vừa xua Michael và Sophie xuống cầu thang và vào trong cái xe không ngựa kinh khủng đó. Những kẻ quan sát vô hình trong các căn nhà lân cận chắc phải nghĩ cô Angorian đã cầm dao đuổi ba người, dựa vào tướng đi hấp tấp của Howl khi lùa mọi người vào xe và chạy vù đi.

“Chuyện gì xảy ra vậy?” Michael hỏi khi chiếc xe chạy lồng lộn lên đồi trở lại và Sophie bấu chặt lấy ghế kinh hoàng. Howl giả tảng không nghe. Nên Michael chờ cho đến khi Howl khóa xe vào trong nhà kho và hỏi lần nữa.

“Oh, không,” Howl thoải mái trả lời, vừa dẫn đường trở lại căn nhà màu vàng tên là RIVENDELL. “Bà Phù Thủy vùng Hoang Phế đã bắt được tôi với thần chú của bả, vậy thôi. Chuyện phải xảy ra sớm hay muộn.” Anh dường như đang tính toán hay cộng trừ trong đầu khi anh mở cổng vườn. “Mười ngàn,” Sophie nghe anh lẩm bẩm. “Vậy là đến ngày Hạ Chí.”

“Cái gì xảy ra vào ngày Hạ Chí?” Sophie hỏi.

“Đó là khi tôi đúng mười ngàn ngày tuổi,” Howl đáp, mở cánh cổng vào vườn RIVENDELL, “là ngày tôi phải trở về với bà Phù Thủy vùng Hoang Phế.” Sophie và Michael đứng chựng lại trên con đường mòn, ngó sững vào lưng áo Howl, nơi thêu những chữ WELSH RUGBY bí ẩn. “Nếu tôi tránh xa khỏi ngư nhân,” họ nghe anh lẩm bẩm, “và không đụng rễ ớt mã…”

Michael gọi với, “Chúng ta có cần trở vào ngôi nhà đó không?” và Sophie kêu, “Bà Phù Thủy sẽ làm gì?”

“Tôi không dám nghĩ tới,” Howl nói. “Cậu không cần phải vào trở lại, Michael.”

Anh mở cánh cửa kính dợn sóng. Bên trong là căn phòng quen thuộc của lâu đài. Ngọn lửa ngái ngủ của Calcifer đang sơn tường màu xanh nhạt trong ánh nắng ban chiều. Howl quấn tay áo dài lại và đưa cho Calcifer một khúc củi.

“Bà ta đã đuổi kịp, mặt xanh,” anh nói.

“Tớ biết,” Calcifer đáp. “Tớ đã cảm giác được.”




Được sửa bởi Pidoll.admin ngày Sat May 15, 2010 5:15 pm; sửa lần 1.

Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 5:13 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 12
Sophie trở thành bà mẹ già của Howl

Sophie không còn thấy việc làm ô danh Howl với nhà vua có tác dụng gì nữa, vì bây giờ bà phù thủy đã bắt kịp được anh. Nhưng Howl nói việc này còn quan trọng hơn lúc nào hết. “Tôi sẽ cần hết sức lực để chạy trốn bà phù thủy,” anh nói, “không thể để cho nhà vua rượt theo tôi nữa.”

Vì vậy, vào buổi trưa ngày hôm sau, Sophie mặc bộ quần áo mới và ngồi với vẻ xinh tươi, hơi cứng nhắc một chút, đợi Michael chuẩn bị và Howl ra khỏi phòng tắm. Trong khi chờ đợi, cô kể cho Calcifer nghe về cái đất nước kì lạ nơi gia đình Howl sống. Kể chuyện làm cô không suy nghĩ đến Đức Vua nữa.

Calcifer rất hứng thú. “Tôi đã biết anh ta từ nơi xa lạ đến,” cậu nói. “Nhưng chỗ này dường như là một thế giới khác. Bà ta thật khôn ngoan, gởi thần chú từ nơi đó đến đây. Rất là khôn ngoan. Tôi thật ngưỡng mộ phép thuật đó, sử dụng một vật có sẵn và biến nó thành lời nguyền. Tôi đã nghi ngờ khi bà và Michael đọc nó hôm nọ rồi. Thằng ngốc Howl đã tiết lộ cho bả quá nhiều về bản thân.”

Sophie nhìn chằm chằm vào khuôn mặt xanh biếc của Calcifer. Cô không ngạc nhiên thấy Calcifer ngưỡng mộ câu thần chú, hay nghe cậu ta gọi Howl là thằng ngốc. Cậu hỏa yêu luôn xúc phạm Howl. Nhưng cô không hiểu được là Calcifer có thật sự ghét Howl hay không. Calcifer lúc nào cũng trông hung ác nên khó mà nói được.

Đôi mắt cam của Calcifer nhìn Sophie. “Tôi cũng sợ nữa,” cậu ta nói. “Tôi sẽ phải chịu chung số phận với Howl nếu bà Phù Thủy bắt được. Bà mà không hủy được hợp đồng trước khi đó, tôi sẽ không thể giúp bà được gì hết.”

Trước khi Sophie hỏi thêm nữa, Howl bước khỏi phòng tắm trông hết sức chỉn chu, mùi hương hoa hồng bay khắp phòng và hét lên kêu Michael. Michael chạy vội vàng xuống cầu thang với bộ cánh nhung mới. Sophie đứng dậy và cầm lấy cây gậy của cô. Đã đến giờ khởi hành.

“Bà thật là đẹp và quý phái!” Michael khen.

“Cũng không làm cho tôi mất mặt,” Howl nói, “trừ cái cây gậy cũ kỹ xấu xí đó.”

“Có nhiều người,” Sophie đáp, “chỉ biết nghĩ đến mình. Cây gậy này đi với tôi. Tôi cần nó để ủng hộ tinh thần.”

Howl nhìn lên trần nhà, nhưng không nói gì thêm.

Ba người trong bộ dáng sang trọng bước vào những con đường của Kingsbury. Sophie dĩ nhiên quay lại để xem tòa lâu đài trông thế nào ở đây. Cô nhìn thấy một cánh cổng cao lớn, cong vút bao quanh cánh cửa đen nhỏ. Phần còn lại của lâu đài như là một bức tường dài nối liền giữa hai biệt thự đá.

“Trước khi bà hỏi,” Howl đáp, “nó thật tế chỉ là cái chuồng ngựa bị bỏ hoang. Lối này.”

Họ đi qua nhiều con đường, cũng đẹp y như những người đang đi bộ vậy. Không có nhiều nguời ở bên ngoài. Kingsbury ở tuốt dưới miền nam và hôm ấy là một ngày nắng nóng hầm hầm. Lề đường như bốc khói. Sophie khám phá ra một điều bất lợi về tuổi già: ta cảm thấy kỳ lạ trong mùa nóng. Những tòa biệt thự mờ mờ ảo ảo dưới mắt cô. Cô rất khó chịu, bởi vì cô muốn ngắm cảnh, nhưng chỉ tòan thấy dáng mờ mờ của mái vòm vàng và nhà cao tầng.

“À quên nữa,” Howl nói, “bà Pentstemmon sẽ kêu bà là bà Pendragon. Pendragon là tên mà tôi dùng ở đây.”

“Để làm quái gì?” Sophie hỏi.

“Để ngụy trang,” Howl đáp. “Pendragon là một cái tên đẹp, đẹp hơn là Jenkins.”

“Tôi thích tên thường hơn,” Sophie nói khi họ quẹo vào trong một con đường hẻm mát mẻ.

“Không phải ai cũng làm Mad Hatters được,” Howl nói.

Dinh thự của bà Pentstemmon rất tráng lệ và nguy nga, nằm gần cuối con hẻm. Hai bên nhà trồng hai chậu cây cam trước cánh cổng xa hoa. Cánh cổng này được mở bởi một lão quản gia già bận áo nhung đen, ông dẫn mọi người vào trong đại sảnh mát lạnh được lát đá hoa cương màu trắng đen xen kẽ như bàn cờ. Michael kín đáo lau mồ hôi trên mặt. Howl, người lúc nào cũng ra vẻ phách lối, đối xử với ông quản gia như là một người bạn già và cười đùa trêu chọc ổng.

Người quản gia đưa bọn họ cho một cậu tiểu đồng bận áo nhung đỏ. Khi cậu bé dẫn họ một cách đầy trịnh trong lễ nghi lên cầu thang sang trọng, Sophie bắt đầu thấy tại sao nơi đây là chỗ luyện tập tốt trước khi gặp Đức Vua. Cậu dẫn họ vào trong một phòng khách, cô chắc chắn là ngay cả cung điện cũng không được huy hoàng như thế này. Mọi thứ trong phòng đều xanh biếc, vàng óng, và trắng tinh, vừa nhỏ, vừa xinh. Trong đó bà Penstemmon là đẹp nhất. Dáng bà cao gầy, và bà ngồi thẳng lưng trong cái ghế thêu vàng xanh, tay đeo găng vàng, chống vào một cây gậy mạ vàng ở đầu. Trang phục của bà bằng lụa vàng, may theo kiểu cứng ngắc thời xưa, kết thúc là cái mũ trùm đầu trông không khác gì vương miện, cột bằng một cái nơ vàng óng dưới khuông mặt diều hâu hốc hác. Đó là một quý bà đẹp nhất và đáng sợ nhất mà Sophie từng thấy.

“Ah, Howell thân mến,” bà nói, găng tay vàng giơ ra.

Howl cúi xuống và hôn găng tay, một việc làm hiển nhiên được trông đợi. Anh làm việc đó rất trang nhã, nhưng cử chỉ đó bị hỏng nếu nhìn từ phía sau vì bàn tay kia của Howl vẫy vẫy như đuổi ruồi để ra dấu vói Michael, hơi chậm hiểu một chút, nhận ra rằng mình phải đứng gần cửa cạnh cậu tiểu đồng. Cậu bé nhanh chóng lùi lại, vui mừng vì đã chạy xa khỏi bà Pentstemmon.

“Pentstemmon phu nhân, xin phép được giới thiệu mẹ con,” Howl nói, giơ tay vẫy Sophie. Vì Sophie có cảm giác y chang như Michael, Howl phải vẫy vẫy tay về phía cô luôn.

“Hân hạnh. Vui mừng,” phu nhân Pentstemmon nói, và giơ găng tay vàng ra cho Sophie. Sophie không chắc nếu bà Pentstemmon muốn cô hôn găng tay hay sao, nhưng cô không thể bắt mình làm vậy được. Thay vì thế, cô đặt tay mình vào trong chiếc găng đó. Bàn tay ở dưới rất lạnh lẽo và già nua. Sau khi cảm thấy thế, Sophie ngạc nhiên khi thấy bà Pentstemmon vẫn còn sống. “Thứ lỗi tôi không thể đứng dậy, thưa bà Pendragon,” Pentstemmon nói. “Sức khỏe của tôi thật không tốt. Buộc tôi phải ngưng dạy học từ ba năm trước. Xin mời ngồi, cả hai người.”

Cố gắng giữ mình không bị run lên vì sợ, Sophie trịnh trọng ngồi trong cái ghế thêu đối diện bà Pentstemmon, tay chống vào cây gậy trong tư thế mà cô cũng hi vọng là cũng tao nhã như thế. Howl xoạc cẳng quí phái ngồi trên ghế kế bên. Anh có vẻ tự nhiên như ở nhà, và Sophie thấy ghen tị.

“Tôi tám mươi sáu,” bà Pentstemmon tuyên bố. “Còn bà bao nhiêu tuổi, phu nhân Pendragon?”

“Chín chục,” Sophie đáp, con số cao nhất hiện trong đầu cô.

“Vậy sao?” bà Pentstemmon nói với một chút xíu ghen tị. “Bà thật may mắn vẫn còn rất nhanh nhẹn.”

“Oh, đúng đó, mẹ thật là nhanh nhẹn tuyệt vời,” Howl đồng ý, “nhiều khi còn không có cách nào ngăn lại được.”

Bà Pentstemmon nhìn anh theo một cách cho Sophie biết rằng bà cũng là một giáo sư nghiêm khắc như cô Angorian. “Tôi đang nói chuyện với mẹ cậu,” bà nói. “Tôi dám nói là bà cũng tự hào về cậu như là tôi. Chúng tôi là hai bà già đã có công tạo dựng nên cậu. Cậu, có thể nói, là tác phẩm hợp tác của hai chúng tôi.”

“Thầy không nghĩ là con có dự phần tạo nên con hay sao?” Howl hỏi. “Bỏ vô một vài thứ của riêng con?”

“Một vài, và toàn những thứ tôi không thích chút nào,” bà Pentstemmon phu nhân trả lời. “Nhưng cậu sẽ không thích ngồi ở đây và nghe hai bà già nói chuyện về cậu. Cậu sẽ đi ngồi bên ngoài sân thượng, đem theo cả tiểu đồng của cậu và Hunch sẽ mang nước lạnh cho hai người. Đi đi nào.”

Nếu Sophie không phải là quá kinh hãi, cô có thể đã phá ra cười trước biểu tình trên mặt của Howl. Anh tất nhiên đã không dự tính việc này sẽ xảy ra. Nhưng anh đứng dậy, chỉ nhún vai nhẹ, làm bộ mặt cảnh cáo với Sophie, và xua Michael ra khỏi căn phòng đằng trước. Bà Pentstemmon quay lưng thẳng tắp nhìn hai người họ. Rồi bà gật đầu với cậu tiểu đồng, ra hiệu cho cậu cũng rời đi luôn. Sau đó, bà Pentstemmon quay mặt lại đối diện Sophie, và Sophie càng thấy run hơn bao giờ.

“Tôi thích cậu ta với tóc đen,” bà Pentstemmon tuyên bố. “Cậu trai đó đang đi về hướng xấu.”

“Ai? Michael?” Sophie hỏi, hoang mang.

“Không phải cậu gia nhân,” Pentstemmon nói. “Tôi không nghĩ cậu ta đủ khôn ngoan để làm tôi phải lo lắng. Tôi đang nói về Howell, bà Pendragon.”

“Oh,” Sophie đáp, tự hỏi tại sao bà Pentstemmon chỉ nói “đang.” Howl chắc chắn đã đến nơi xấu xa từ lâu.

“Lấy thí dụ tòan bộ vẻ ngoài của cậu ta,” bà Pentstemmon nhận xét chung chung. “Nhìn bộ quần áo.”

“Howl lúc nào cũng lo lắng về bề ngòai của mình,” Sophie đồng ý, và tự hỏi tại sao cô lại nói giảm nhẹ điều đó.

“Và khi xưa cũng vậy. Tôi cũng quan tâm đến bề ngoài của mình, và tôi không thấy có gì sai về chuyện đó,” bà Pentstemmon nói. “Nhưng tại làm sao cậu tại lại đi ra ngoài với bộ quần áo có ma thuật? Đó là một thần chú tạo sự lôi cuốn mê hoặc, hướng đến các cô gái – làm rất là tốt, tôi thú nhận, và rất khó nhận ra ngay cả dưới con mắt đầy kinh nghiệm của tôi, vì nó được quyện vào trong chỉ - cái thần chú này sẽ biến cậu ta thành gần như hấp dẫn không cưỡng lại được cho các cô gái. Điều này thể hiện một bước tiến vào trong ma thuật, hẳn nó làm bà rất lo lắng, bà Pendragon.”

Sophie khó nhọc nghĩ về bộ quần áo xám đỏ. Cô đã dùng chỉ khâu nó mà không để ý thấy có gì lạ. Nhưng bà Pentstemmon là một chuyên gia về ma thuật, và Sophie chỉ là một chuyên gia về quần áo.

Bà Pentstemmon đặt cả hai găng tay vàng lên đầu gậy và nghiêng thân mình thẳng tắp của bà, để cả hai con mắt chuyên gia và sắc nhọn nhìn thằng vào mắt Sophie. Sophie càng thấy hoảng sợ và bất ổn. “Cả cuộc đời tôi gần sắp hết rồi,” bà Pentstemmon nói. “Tôi cảm thấy chết đang từng bước đến gần.”

“Oh, tôi chắc là không phải vậy,” Sophie nói, cố gắng nói giọng xoa dịu. Thật là khó để nói bất cứ giọng gì với bà Pentstemmon đang ngó chăm chăm như thế.

“Tôi xin quả quyết là nó chính xác như vậy,” bà Pentstemmon nói. “Đó là tại sao tôi rất khao khát được gặp bà, Pendragon phu nhân. Howell, bà biết đó, là học trò cuối cùng và giỏi nhất của tôi. Tôi đã chuẩn bị về hưu khi cậu ta đến với tôi từ một vùng đất xa xôi. Tôi nghĩ tôi đã hoàn tất công việc khi đào tạo Benjamin Sullivan – người bà có lẽ biết dưới tên Pháp sư Suliman, cầu cho cậu được an nghỉ! – và giới thiệu cho cậu ta chức vụ Pháp Sư Hoàng Gia. Thật kỳ lạ, Benjamin cũng đến từ vùng đất của Howell. Rồi Howell đến, và chỉ một cái liếc mắt tôi đã thấy cậu có sức tưởng tượng và tài năng gấp đôi. Dù tôi phải thú nhận là cậu ta có nhiều cá tính không được tốt, tôi biết cậu ta là lực lượng của cái thiện. Thiện, Pendragon phu nhân. Nhưng giờ cậu ta là gì?

“Gì thiệt?” Sphie nói.

“Có chuyện gì đó đã xảy ra cho cậu ta,” bà Pentstemmon nói, vẫn nhìn chăm chú vào Sophie. “Và tôi nhất định tìm ra nguyên nhân trước khi tôi chết.”

“Theo bà nghĩ thì chuyện gì đã xảy ra?” Sophie hỏi vẻ không thoải mái.

“Tôi tin là bà sẽ kể cho tôi nghe,” Mrs. Pentstemmon nói. “Theo tôi thì cậu đã theo con đường của bà Phù Thủy vùng Hoang Phế. Họ đều nói có một thời bà ta không phải ác độc – dù tôi chỉ nghe nói vậy thôi, bởi vì bà ta già hơn cả hai chúng ta và đã dùng ma thuật để giữ lại tuổi trẻ. Howell cũng có tài năng thiên phú như thế. Dường như những người có tài không thể chống lại một chút nguy hiểm của sự khôn ngoan, kết quả là phải sa vào một sai lầm chết người và bắt đầu từ từ đi vào ma đạo. Bà, có thể nào, biết được đó là gì không?”

Tiếng của Calicfer vang trong tai Sophie, nói, “Cái hợp đồng không tốt cho cả hai chúng tớ về lâu dài.” Cô cảm thấy lạnh giá, mặc cho không khí nóng bức ban ngày thổi qua những cửa sổ mở toang của căn phòng đẹp đẽ này. “Vâng,” cô nói. “Howl đã dính vào hợp đồng với một con hỏa yêu.”

Bàn tay của bà Pentstemmon run một chút trên cây gậy. “Đúng là điều đó rồi. Bà phải hủy cái hợp đồng đó, bà Pendragon.”

“Tôi sẽ làm liền nếu như tôi biết cách,” Sophie nói.

“Chắc chắn dự cảm của người mẹ và tài năng phép thuật mạnh mẽ của bà sẽ cho bà biết,” Pentstemmon phu nhân nói. “Tôi đã nhìn kỹ bà, Mrs. Pendragon, mặc dù bà có thể không để ý…”

“Ồ, tôi để ý chứ, thưa bà Pentstemmon,” Sophie nói.

“… và tôi thích tài năng thiên bẩm của bà,” bà Pentstemmon nói. “Đem lại sự sống cho đồ vật, như là cây gậy trong tay bà vậy, rõ ràng là bà đã nói chuyện với nó, đến nỗi nó trở thành vật mà người ta thường gọi là cây gậy thần. Tôi nghĩ bà sẽ không gặp khó khăn khi hủy hợp đồng đâu.”

“Vâng, nhưng tôi cần biết các điều kiện của nó là gì,”Sophie nói. “Có phải Howl nói với bà tôi là phù thủy không, bởi vì nếu …”

“Không có. Không cần phải e ngại. Bà có thể tin vào kinh nghiệm của tôi để biết những việc này,” bà Pentstemmon nói. Rồi, bà nhắm mắt lại, làm Sophie thoải mái hơn. Như là một ánh đèn sáng rực bị tắt đi. “Tôi không biết, và cũng không muốn biết, về cái hợp đồng đó,” bà nói. Cây gậy của bà lung lay lần nữa, như là đang rùng mình. Môi bà mím lại thành một đừờng dài. “Nhưng giờ thì tôi hiểu,” bà nói, “việc gì đã xảy ra cho bà Phù Thủy. Bà ta đã làm hợp đồng với hỏa yêu, và qua nhiều năm tháng, nó đã điều khiển được bà ta. Yêu quái không hiểu được thiện và ác. Nhưng chúng có thể được mua chuộc vào một hợp đồng, nếu có người cho nó một vật có giá trị, một vật chỉ có con người có. Điều đó kéo dài mạng sống của cả người và yêu, và con người lấy được phép thuật của yêu quái để thêm vào sức mạnh của mình.” Bà Pentstemmon lại mở mắt ra. “Đó là tất cả những gì tôi có thể nói về chuyện này,” bà nói, “ngoại trừ việc khuyên bà nên tìm cho ra hoả yêu đã giữ cái gì. Bây giờ tôi xin phép. Tôi phải đi nằm nghỉ một chút.”

Và như ma thuật, có lẽ đúng là thế, cánh cửa mở toang ra và cậu tiểu đồng đi vào để dẫn Sophie ra khỏi căn phòng. Sophie rất vui được đi. Cô chỉ cảm thấy lúng túng xấu hổ ở bên trong. Cô quay nhìn thân hình cứng ngắc, thẳng tắp khi cánh cửa đóng lại và tự hỏi nếu bà Pentstemmon cũng sẽ làm cô cảm thấy như thế này nếu cô thật sự là mẹ của Howl. Sophie nghĩ rằng kết quả cũng như vậy. “Tôi ngả nón cho Howl vì đã chịu được bà làm thầy cho hơn một ngày!” cô thì thầm với chính mình.

“Thưa bà?” cậu tiểu đồng hỏi, nghĩ rằng Sophie đang nói với cậu.

“Tôi nói, đi chầm chậm xuống cầu thang thôi, tôi không theo kịp,” Sophie bảo. Chân cô run run, “Mấy cậu trẻ chạy nhanh quá,” cô nói.

Cậu tiểu đồng dắt cô chầm chậm và chu đáo xuống cầu thang sáng bóng. Nửa đường, Sophie hồi phục lại tinh thần từ cá tính của Mrs. Pentstemmon để nghĩ về vài điều mà Mrs. Pentstemmon đã nói. Bà đã bảo Sophie là một nữ phù thủy. Kỳ lạ thật, Sophie chấp nhận điều này không khó khăn gì hết. Việc này giải thích sự nổi tiếng của nhiều cái nón, cô nghĩ. Nó giải thích Bá tước Gì đó của Jane Farrier. Nó có thể giải thích sự ghen tị của Phù Thủy vùng Hoang Phế. Dường như là Sophie đã luôn biết điều này. Nhưng cô đã nghĩ là thật không đúng để có tài năng ma thuật thiên bẩm, bởi vì cô là con gái lớn trong ba chị em. Tài năng đó phải thuộc về Lettie mới phải.

Rồi cô nghĩ về cái áo xám đỏ và xém rớt xuống cầu thang. Cô là người đã đặt thần chú lên nó. Cô có thể nghe tiếng mình lầm bầm với nó, “Được may để kéo con gái!” cô đã bảo vậy. Và tất nhiên điều đó thành sự thật. Nó đã quyến rũ Lettie ở trong vườn hôm đó. Hôm qua, với một chút ngụy trang, dường như nó tạo ảnh hưởng bí mật lên cô Angorian nữa.

Chết rồi! Sophie nghĩ. Mình đã làm tăng gấp đôi con số trái tim sẽ bị làm vỡ rồi! Phải tìm cách lột bộ áo đó khỏi mình hắn mới được!

Howl, trong bộ áo đó, đang chờ trong đại sảnh trắng đen với Michael. Michael lo lắng huých Howl khi thấy Sophie từ từ đi xuống cầu thang với cậu tiểu đồng. Howl trông rất buồn bã. “Bà trông có vẻ tả tơi quá,” anh nói. “Có lẽ không nên đi gặp nhà vua nữa. Tôi sẽ tự đi và tự làm ô danh mình khi tạ lỗi cho bà. Tôi sẽ nói sự độc ác của tôi đã làm bà bệnh. Nhìn bà có thể thấy điều đó giống sự thật lắm.”

Sophie dĩ nhiên không muốn gặp nhà vua. Nhưng cô nghĩ về chuyện Calcifer đã nói. Nếu Đức Vua truyền lệnh cho Howl đi và trong vùng Hoang Phế và bà Phù Thủy bắt được anh, cơ hội trẻ lại của Sophie cũng tiêu tan luôn.

Cô lắc đầu. “Sau bà Pentstemmon,” cô nói, “Đức Vua của Ingary chỉ là một người bình thường mà thôi."


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 5:17 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 13
Sophie bôi nhọ tên Howl


Sophie lại có cảm giác kỳ quái khi bọn họ đến gần lâu đài. Những mái vòm vàng làm cô choáng ngợp. Đường đến cổng trước là một cầu thang dài rộng lớn, mỗi sáu bước có một chàng lính canh. Những cậu trai trẻ có lẽ gần xỉu trong tiết trời nóng như nung, Sophie nghĩ khi hồng hộc bước lên từng bậc. Trên đầu bậc thang là những cánh cổng hình tròn, sảnh đường, hành lang, phòng này tiếp nối phòng sau. Sophie không đếm nổi nữa. Tại mỗi cánh cổng là một người ăn bận rực rỡ mang găng tay trắng – vẫn còn trắng tinh mặc cho nhiệt độ bên ngoài – hỏi han và dẫn họ đến người tiếp theo trong cái cổng tròn kế.

“Pendragon Phu nhân đến gặp Đức Vua!” tiếng mỗi người vọng lên qua hành lang.

Được nửa đường, Howl được lịch sự tách ra và bảo phải chờ. Michael và Sophie tiếp tục được chuyền từ người này sang người khác. Họ được đưa lên tầng trên, cho những người tùy tùng mặc màu xanh dương rực rỡ thay vì đỏ, và lại bị chuyền tay lần nữa cho đến khi vào trong một phòng chờ đợi lớn hơn trang trí bằng một trăm thanh gỗ có màu khác nhau. Ở đó Michael cũng bị tách ra và bảo phải chờ. Sophie, đến giờ này vẫn không chắc là mình không phải đang trong một giấc mơ lạ thường nào đó, lại được dẫn vào hai cánh cửa khổng lồ, và lần này cô nghe có tiếng vọng lại, “Tâu Bệ hạ, đây là phu nhân Pendragon xin được yết kiến.”

Và đó là Đức Vua, không phải ngồi trên ngai, mà là trong một cái ghế vuông vức chỉ có một chiếc lá vàng nhỏ ở trên, chính giữa căn phòng lớn, ngài bận trang phục còn khiêm tốn hơn những người phục vụ. Ngài ngồi một mình, như một người bình thường. Đúng, ông ngồi với một chân xoạc ra theo kiểu một vì vua, và cũng khá đẹp trai theo kiểu tròn trịa, xinh xắn, nhưng với Sophie, ông dường như quá trẻ và chỉ một chút quá tự hào để làm vua. Cô nghĩ ông ta, với khuôn mặt đó, nên không chắc về mình một chút.

Ông nói, “Well, có chuyện gì mà mẹ của Pháp sư Howl phải tìm gặp tôi?”

Và Sophie đột ngột bị áp đảo bởi sự thật là cô đang đứng nói chuyện với nhà vua. Cứ như, cô choáng váng nghĩ, người đàn ông ngồi đó và cái thứ khổng lồ, quan trọng tên gọi vương quyền là hai thứ riêng lẻ chỉ ngẫu nhiên cùng ngồi một cái ghế. Và cô thấy mình đã quên sạch từng chi tiết cẩn thận, tinh tế mà Howl đã dặn cô phải nói. Nhưng cô phải nói cái gì đó.

“Thằng bé gởi tôi đến để nói với ngài rằng nó sẽ không đi tìm em trai ngài,” cô nói. “Tâu bệ hạ.”

Cô ngó chăm chăm nhà vua. Nhà vua ngó lại. Thật là một thảm họa.

“Bà có chắc không?” Nhà vua hỏi. “Pháp sư dường như đã rất vui vẻ chấp nhận khi tôi nói chuyện với y.”

Điều duy nhất còn sót lại trong đầu Sophie là cô đến đây để bôi nhọ tên Howl, nên cô nói, “Nó nói xạo về việc đó. Nó không muốn làm ngài khó chịu. Thằng bé luôn luồn lách như lươn, nếu ngài hiểu ý tôi, tâu bệ hạ.”

“Và y hi vọng sẽ luồn khỏi việc tìm em trai Justin của tôi,” Nhà vua đáp. “Tôi hiểu rồi. Sao bà không ngồi xuống, vì tôi thấy bà không được trẻ, và kể tôi nghe lý do của Pháp sư?”

Có một cái ghế đơn sơ khác nằm khá xa Nhà Vưa. Sophie lạch bạch ngồi xuống, hai tay chống lên cây gậy như kiểu của bà Pentstemmon, hi vọng cái dáng đó sẽ làm cô thấy can đảm hơn. Nhưng tâm trí cô vẫn bao trùm một màu trắng toát vì sợ hãi. Tất cả cô có thể nghĩ đến để nói là, “Chỉ có một kẻ hèn nhát mới gởi bà mẹ già đến năn nỉ giùm. Ngài có thể thấy nó là như vậy đó, tâu bệ hạ.”

“Thật là một cách kỳ lạ,” Nhà Vua nghiêm trọng nói. “Nhưng tôi đã nói với Pháp sư là tôi sẽ trả công xứng đáng nếu ngài đồng ý.”

“Ồ, thằng bé không quan tâm đến tiền bạc,” Sophie nói. “Nhưng nó sợ Phù Thủy vùng Hoang Phế đến chết cứng, ngài thấy đó. Bà ta đã nguyền rủa và vừa mới bắt kịp thằng bé.”

“Vậy thì pháp sư có mọi lý do để bị sợ,” Nhà vua nói với chút xíu rùng mình. “Nhưng hãy kể cho tôi nghe thêm về Pháp sư.”

Thêm nữa về Howl? Sophie tuyệt vọng nghĩ. Tôi phải bôi nhọ tên hắn! Đầu óc cô trống rỗng đến nỗi trong một giây dường như với cô Howl không có khuyết điểm nào cả. Ngốc thật! “Well, thằng bé hay thay đổi, cẩu thả, ích kỷ, và hay bị kích động,” cô nói. “Nhiều khi tôi nghĩ nó không lo đến người khác miễn là nó không sao – nhưng rồi tôi nhận ra rằng nó rất quan tâm tới bạn bè. Rồi tôi nghĩ nó chỉ tốt khi nào có lợi cho nó – chỉ sau đó tôi nhận ra nó không lấy tiền người nghèo. Tôi không biết, Bệ hạ. Nó rắc rối lắm.”

“Tôi có ấn tượng,” Đức Vua nói, “là Howl là một người vô đạo đức, láu cá với cái lưỡi lém lỉnh và một đầu óc khôn ngoan. Bà đồng ý không?”

“Ngài nói thật chí lý!” Sophie thật lòng reo lên. “Nhưng ngài bỏ sót tính phù phiếm của nó và …” Cô nhìn nhà vua đầy nghi ngờ. Ngài dường như quá sẵn sàng giúp cô làm ô danh Howl.

Nhà Vua đang mỉm cười. Một nụ cười hơi không chắc chắn đi với con người thật của ngài, hơn là với một nhà vua. “Cám ơn, bà Pendragon,” ông nói. “Sự thẳng thắn của bà đã cất đi gánh nặng của tôi. Pháp sư Howl đã đồng ý tìm em tôi thật dễ dàng làm tôi nghĩ rằng tôi đã chọn sai người. Tôi e rằng y là kẻ thích khoe khoang, hay sẽ làm tất cả vì tiền. Nhưng bà đã cho tôi thấy y chính là người mà tôi cần.”

“Oh, quỷ tha ma bắt!” Sophie kêu lên. “Nó kêu tôi đến để nói với ngài là nó không phải thế!”

“Và bà đã làm vậy.” Nhà vua nhích ghế lại gần Sophie. “Cho phép tôi nói thẳng,” ngài nói. “Bà Pendragon, tôi rất cần em tôi trở về. Không phải chỉ vì tôi thương nó và hối hận về vụ tranh cãi trước kia. Không phải chỉ vì những người nào đó đang xì xầm với nhau là tôi chính tay đuổi nó đi – việc mà ai biết cả hai chúng tôi đều biết là vô lý. Không, thưa bà Pendragon. Sự thật là, em trai Justin của tôi là một đại tướng tài giỏi và, với High Norland và Strangia sắp sửa tuyên bố chiến tranh với nước ta, ta không thể không có nó. Bà phù thủy cũng đe dọa cả tôi nữa. Bây giờ mọi báo cáo đều đồng ý là Justin đã thật sự đến vùng Hoang Phế, tôi chắc chắn là mụ phù thủy đã cố ý không cho em tôi ở đây khi tôi cần nó nhất Tôi e rằng mụ ta đã bắt cóc Pháp sư Suliman để bẫy Justin. Vì thế mà tôi cần một pháp sư thông minh và vô tâm để đưa nó về.”

“Howl sẽ chỉ chạy trốn mà thôi,” Sophie cảnh cáo nhà vua.

“Không,” nhà vua đáp. “Tôi không nghĩ y sẽ làm thế. Sự thật là y đã gởi bà đến đây chứng minh điều đó. Y làm thế để cho tôi thấy y là kẻ quá hèn nhát để quan tâm đến tôi nghĩ gì về y, đúng không, thưa bà Pendragon?”

Sophie gật đầu. Cô ước gì đã nhớ hết tất cả những đìêu tinh tế mà Howl đã dặn. Nhà vua sẽ hiểu chúng ngay khi cả cô chẳng hiểu gì.

“Không phải hành động của một kẻ vô tích sự,” Đức Vua phán. “Nhưng không ai làm vậy trừ khi là bước đường cùng, cho tôi thấy là Pháp sư Howl sẽ làm như tôi muốn nếu tôi cho y thấy rõ ràng là bước cuối cùng của y đã thất bại.”

“Tôi nghĩ ngài – er – đã tự nhận định từ những điều không có đó, thưa Bệ hạ,” Sophie đáp.

“Tôi không nghĩ vậy,” Đức Vua mỉm cười. Những đường nét mờ nhạt trên khuôn mặt ngài cứng lại kiên quyết. Ngài chắc chắn là ngài đúng.

“Bà Pendragon, truyền lời ta cho Pháp sư Howl, là ta chỉ định y làm Pháp sư Hoàng gia ngay từ bây giờ, với mệnh lệnh phải tìm cho ra Vương gia Justin, sống hay là chết, trước khi năm nay kết thúc. Bà có thể đi ngay bây giờ.”

Ngài đưa tay ra cho Sophie, như là bà Pentstemmon, nhưng kém quý phái hơn một chút. Sophie lật đật đứng dậy, băn khoăn không biết mình có nên hôn bàn tay này hay không. Nhưng vì cô cảm thấy như muốn nâng cây gậy lên và khõ vào đầu nhà vua, cô nắm tay ngài và khẽ cúi đầu chào. Dường như cô đã làm đúng. Đức vua mỉm cười thân thiện với cô khi cô lạch bạch lùi ra cánh cửa đôi.

“Ồ, khốn kiếp!” cô thì thầm với chính mình. Đó hoàn tòan không phải là điều mà Howl mong muốn. Bây giờ cậu ta sẽ phải dời lâu đài đi xa cả ngàn dặm khỏi nơi đây. Lettie, Martha và cả Michael đều sẽ đau khổ, và nhất định có một dòng thác chất nhờn màu xanh đang chờ đợi ở nhà. “Đúng là số phận của người chị cả,” cô thì thầm khi đẩy cánh cửa nặng chịch mở ra. “Không thể nào khác được!”

Có một trục trặc khác nữa. Trong sự khó chịu và chán nản, Sophie đã đi nhầm qua cánh cửa. Căn phòng này có đầy gương treo xung quanh. Trong đó phản chiếu hình ảnh bé nhỏ, lưng cong của cô trong cái váy xám đẹp đẽ, và một số lượng lớn những người trong bộ quan phục màu xanh dương, những người bận trang phục đẹp như là Howl, nhưng không ai là Michael. Michael dĩ nhiên đang chờ ở trong căn phòng trang trí đầy những miếng gỗ.

“Oh, mắc dịch!” Sophie thốt.

Một trong những triều thần đã vội vàng đến gần cô và cúi đầu chào. “Pháp sư Phu nhân! Cháu có thể giúp bà được chăng?”

Đó là một cậu trai trẻ tuổi, nhỏ nhắn, mắt đo đỏ. Sophie ngó chằm chằm cậu ta. “Oh, chúa ơi!” cô nói. “Vậy là câu thần chú thành công.”

“Thưa đúng thế,” cậu ta đáp với vẻ hơi mắc cỡ. “Cháu đã tước vũ khí của hắn ta khi hắn ắt xì và bây giờ hắn đang kiện cháu. Nhưng điều quan trọng nhất…” khuôn mặt cậu mỉm cười rạng rỡ, “… là Jane yêu quí đã trở về bên cháu! Cháu có thể làm gì được cho bà? Cháu cảm thấy có trách nhiệm cho hạnh phúc của bà.”

“Tôi không chắc là phải lo ngược lại không,” Sophie đáp. “Cậu không phải là bá tước Catterack chứ?”

“Hân hạnh được phục vụ phu nhân,” vị triều thần cúi chào.

Jane Farrier phải cao hơn cậu ta ít nhất một tấc! Sophie nghĩ. Chắc chắn là lỗi của ta. “Vâng, cậu có thể giúp tôi,” Sophie nói, và giải thích về Michael.

Bá tước Catterack bảo đảm với cô Michael sẽ được gọi đến cổng đại sảnh để gặp cô. Không có gì rắc rối cả. Cậu ta dẫn Sophie đến cho một người hầu mang găng tay, rồi đến người khác, như là lúc trước, và dần dần bước xuống những bậc thang do các anh lính canh gác.

Michael không có ở đó. Và cả Howl cũng thế, nhưng đó là một sự thoải mái nho nhỏ cho Sophie. Cô nghĩ cô có thể đoán được mọi việc sẽ trở nên như vậy! Vị bá tước Catterack rõ ràng là một người làm việc gì cũng trật, và cô cũng chính là người như vậy. Có lẽ do may mắn mà cô tìm được đường ra ngoài. Hiện giờ cô mệt mỏi, nóng nực, và chán nản đến mức cô quyết định không chờ cho Michael nữa. Cô muốn ngồi xuống trong chiếc ghế cạnh lò sưởi và kể cho Calcifer nghe cô đã tạo ra rắc rối thế nào.

Sophie lạch bạch bước xuống bậc thang lộng lẫy. Cô tập tễnh xuống một đại lộ huy hoàng. Cô cà nhắc qua những con đường, với hàng tháp, mái nhà, mái vòm cuộn tròn xoay đến chóng mặt. Và cô nhận ra sự việc tồi tệ hơn cô tưởng. Cô bị lạc. Cô tuyệt đối không biết cái chuồng ngựa giả dạng của cổng lâu đài ở đâu. Cô quẹo lại một đường phố khác, nhưng cũng không nhận ra gì hết. Bây giờ ngay cả đường về cung điện cô cũng không biết. Cô thử hỏi người đi đường. Hầu hết đều nóng và mệt như cô. “Pháp sư Pendragon?” họ nói. “Ai thế?”

Sophie lạch bạch đi trong vô vọng. Cô gần bỏ cuộc và chịu ngồi trước thềm nhà người ta qua đêm, khi cô đi ngang qua cuối con hẻm nhỏ gần nhà của Pentstemmon phu nhân. Ah! cô nghĩ. Ta có thể đi hỏi ông quản gia. Ông ta và Howl là bạn thân thiết, ổng phải biết nhà của Howl ở đâu. Nên cô quẹo vào con hẻm.

Bà Phù Thủy vùng Hoang Phế đang đi chiều ngược lại về phía cô.

Rất khó nói bằng cách nào mà Sophie nhận ra đó là bà phù thủy. Gương mặt bà ta đã đổi hác. Mái tóc, thay vì màu hạt dẻ cuộn từng lọn, lại là một khối màu đỏ dợn sóng, dài gần đến thắt lưng, và bà ta đang mặc bộ váy màu nâu đỏ lẫn màu vàng. Trông rất đẹp và đáng yêu. Sophie nhận ra bà ta ngay lập tức. Cô gần như dừng chân lại, nhưng không hẳn.

Không có lý do gì để bà ấy nhận ra mình, Sophie nghĩ. Mình chỉ là một trong hàng trăm người bị bà ta nguyền rủa. Và Sophie can đảm tiến đến trước, giậm cây gậy của cô lên sỏi và tự nhắc với mình, nếu gặp rắc rối, là Pentstemmmon phu nhân đã nói cây gậy này đã trở thành một vật có phép thuật.

Lại là một sai lầm nữa. Bà Phù thủy từ lề đường lướt đến, mỉm cười, tay xoay xoay cái dù, theo sau lưng là hai cậu bé tiểu đồng mặt rầu rĩ trong bộ áo nhung màu cam. Khi bà ta bước song song với Sophie, bà ngừng chân, và mùi thơm bay vào mũi Sophie. “Ồ, là tiểu thư Hatter đây mà!” Phù thủy cười lớn. “Tôi không bao giờ quên mặt ai, nhất là khi tôi đã làm ra nó! Bà làm gì ở đây, diện áo thật đẹp? Nếu bà nghĩ đến việc đến thăm phu nhân Pentstemmon, bà có thể quên đi. Mụ già đó đã chết rồi.”

“Chết?” Sophie nói. Cô chợt có một ý tưởng ngu ngốc để thêm vào, Nhưng bà ta còn sống một giờ trước! Và cô tự dừng mình lại, bởi vì chết là như thế đó: người ta còn sống cho đến khi ta chết.

“Đúng. Chết,” phù thủy đáp. “Bà ta không cho tôi biết người mà tôi muốn tìm ở đâu. Bả nói, ‘Bước qua xác của tôi!’ và tôi làm như bả nói.”

Bà ta đang tìm Howl! Sophie nghĩ. Mình phải làm gì bây giờ? Nếu không phải là cô đang rất nóng nực và mệt mỏi, Sophie sẽ phải rất sợ hãi để mà nghĩ nữa kìa. Bởi vì một bà phù thủy có thể hại chết phu nhân Pentstemmon sẽ không gặp rắc rối gì để ra tay với Sophie, có gậy hay không gậy. Và nếu bà ta nghi ngờ một chút nào là Sophie biết chỗ của Howl, đó có thể là ngày tàn của Sophie. Có lẽ việc Sophie không nhớ cổng vào lâu đài là việc tốt.

“Tôi không biết bà vừa mới giết ai,” cô nói, “nhưng mà bà là một kẻ giết người ghê gớm.”

Nhưng bà phù thủy không có vẻ gì nghi ngờ cả. Bà nói, “Nhưng tôi tưởng cô nói cô sẽ đi gặp bà Pentstemmon?”

“Không,” Sophie đáp. “Chính bà mới là người nói thế. Tôi không cần phải biết bà ta để gọi bà là độc ác vì đã giết người.”

“Vậy thì cô đang đi đâu?” bà phù thủy hỏi.

Sophie muốn bảo bà phù thủy không liên quan tới bà. Nhưng nói vậy chỉ gây thêm rắc rối. Thế nên cô nói điều duy nhất mà cô nghĩ tới. “Tôi đang đi gặp Đức Vua.”

Bà phù thủy cười hoài nghi. “Nhưng Đức Vua có chịu gặp bà không?”

“Tất nhiên rồi,” Sophie la lên, rung lên vì sợ hãi và giận dữ. “Tôi đã hẹn rồi. Tôi sẽ kiến nghị với ngài về những điều kiện lao động của người làm mũ. Tôi vẫn tiếp tục làm việc, bà thấy đó, ngay cả khi bà đã nguyền tôi.”

“Vậy thì cô đã đi sai đường rồi,” bà phù thủy đáp. “Hoàng cung nằm đằng sau lưng cô kia.”

“Ồ, vậy sao?” Sophie thốt. Cô không cần phải giả vờ ngạc nhiên. “Vậy là tôi đã đi một vòng. Tôi mất hết phương hướng từ khi bà làm tôi thành thế này.”

Bà phù thủy cười khoái trá và không tin một từ cô nói. “Vậy thì đi với tôi,” bà nói, “tôi sẽ dẫn cô đến Hoàng cung.”

Sophie không thể làm gì hơn là quay đầu lại và bước theo sau bà phù thủy, với hai cậu bé đang lê bước theo sau cả hai. Giận dữ và tuyệt vọng dâng lên trong Sophie. Cô nhìn bà phù thủy đang duyên dáng lướt đi bên cạnh và nhớ phu nhân Pentstemmon đã nói bà phù thủy đã là một bà già rất già. Không công bằng! Sophie nghĩ, nhưng cô không thể làm được gì hết.

“Tại sao bà lại biến tôi thành như vậy?” cô gạn hỏi khi họ bước trên một con đường lớn có hồ phun nước lớn chính giữa.

“Cô đã ngáng đường không cho tôi lấy tin mà tôi cần,” bà phù thủy đáp. “Dĩ nhiên tôi cuối cùng cũng lấy được nó.”

Sophie khá bối rối về việc này. Cô băn khoăn liệu nói là có lầm lẫn ở đây có được không, khi bà phù thủy thêm vào, “Dù tôi dám nói cô không biết là cô đã làm vậy,” và phá lên cười, như đó là việc tức cười nhất vậy. “Cô có nghe đến xứ sở gọi là Wales chưa?” bà ta hỏi.

“Chưa,” Sophie đáp. “Có phải ở dưới biển không?”

Bà phù thủy làm như thể đó là chuyện buồn cười nhất trên đời. “Không phải giây phút này,” bà nói. “Đó là nguyên quán của Pháp sư Howl. Bà biết Pháp sư Howl, đúng không?”

“Chỉ nghe đồn thôi,” Sophie chối. “Y ăn con gái. Y cũng độc ác như bà.” Nhưng cô thấy lạnh. Không phải vì cái hồ phun nước mà họ vừa đi ngang qua ngay lúc ấy. Phía sau hồ phun nước, ngang qua một khu công viên lót đá hoa hồng là những bậc thang đá dẫn đến Hoàng cung.

“Ở kia kìa. Đó là Hoàng cung,” bà phù thủy nói. “Cô liệu có trèo lên được cầu thang không đó?”

“Bà cũng có hay ho gì đâu,” Sophie đáp. “Hãy làm tôi trẻ lại và tôi sẽ chạy lên đó, ngay cả trong trời này.”

“Như thế thì có gì là vui chứ,” bà phù thủy trả lời. “Đi đi nào. Và nếu bà được phép tiếp kiến nhà vua, hãy nói với y là ông nội y đã lưu đày ta ra miền Hoang phế và ta vẫn còn hận y.”

Sophie tuyệt vọng nhìn dãy cầu thang dài dằng dặc. Ít nhất là cũng không có ai ở trên đó ngoài những người lính gác. Với vận may của cô ngày hôm nay, cô cũng không ngạc nhiên nếu nhìn thấy Michael và Howl đang trên đường đi xuống. Vì bà phù thủy rõ ràng sẽ đứng ở đó nhìn cô đi, Sophie không còn cách nào khác là leo lên. Cô tập tễnh bước, qua những cậu lính đầy mồ hôi, đến cổng Hoàng cung lần nữa, mỗi bước lại mỗi căm ghét bà phù thủy hơn. Cô quay lại, thở hồng hộc, tại đỉnh cầu thang. Mụ phù thủy vẫn còn ở đó, váy nâu đỏ bay phất phới dưới chân, hai hình dạng màu cam đứng bên cạnh, đang trông chờ cảnh Sophie bị đuổi ra ngoài.

“Mắc toi!” Sophie thốt. Cô bước tập tễnh đến những người tùy tùng trước cổng. Vận rủi của cô vẫn còn đeo đủi. Không có dấu của Michael hay Howl phía sau gì hết. Cô buộc phải nói với lính gác, “Tôi còn có chuyện quên nói với Đức Vua.”

Họ vẫn nhớ cô. Họ để cô đi vào trong, được một tùy tùng bận găng tay trắng dẫn đi. Và trước khi Sophie định thần lại, qui trình máy móc của Hoàng cung lại vận hành lần nữa, và cô bị trao tay từ người này sang người khác, y như lần trước, cho đến khi cô đến trước hai cánh cửa và người mặc áo xanh xướng, “Pendragon phu nhân lại xin yết kiến Hoàng thượng.”

Như một cơn ác mộng, Sophie nghĩ khi lại bước vào căn phòng rộng lớn. Cô không còn lựa chọn, cô phải làm ô danh Howl lần nữa. Chỉ là, với tất cả mọi chuyện xảy ra, và sự sợ hãi đã trở lại, tâm trí cô càng trống rỗng hơn bao giờ.

Đức vua, lần này, đang đứng tại một cái bàn lớn ngay góc phòng, bồn chồn di chuyển những lá cờ trên bản đồ. Ngài ngước nhìn lên đầy hứng thú, “Họ bảo bà có chuyện quên nói với tôi.”

“Vâng,” Sophie đáp. “Howl nói rằng nó sẽ chỉ tìm Vương gia Justin với điều kiến ngài phải hứa gả công chúa cho nó.” Cái gì làm mình nói như vậy? Cô nghĩ. Ông ta sẽ chém đầu cả hai đứa hết.

Nhà vua liếc nhìn cô đầy lo lắng, “Bà Pendragon, bà phải biết rằng điều đó hoàn toàn không thể được” ngài nói. “Tôi biết bà rất quan tâm đến con trai bà để đề nghị điều ấy, nhưng bà không thể trói y trong tạp dề của bà hoài được, và ta đã quyết định rồi. Mời bà đến đây và ngồi xuống. Bà có vẻ mệt.”

Sophie run rẩy bước đến cái ghế thấp Nhà vua chỉ và ngồi thộp vào trong, không biết khi nào quân lính sẽ ập đến để bắt cô.

Nhà vua nhìn lơ láo xung quanh. “Con gái tôi vừa mới ở đây,” ngài nói. Sophie hết sức ngạc nhiên khi ngài ngồi sụp xuống, và nhìn dưới bàn. “Valeria,” ngài gọi. “Vallie, ra đây ngay. Hướng này, con gái ngoan.”

Có tiếng động sột soạt. Sau một giây, công chúa Valeria hiện ra từ dưới gầm bàn trong tư thế ngồi chồm hổm, miệng cười toe toét. Nàng có bốn cái răng. Trên đầu nàng không có cả một mái tóc đàng hoàng nữa. Nàng chỉ có lơ thơ vài lọn màu trắng ở bên trên hai lỗ tai. Khi trông thấy Sophie, miệng công chúa càng mở rộng ra hơn và nàng lấy bàn tay đang ngặm trong miệng ra, với tới nắm của Sophie. Váy Sophie trả lời với một vết ướt loang lổ khi nàng công chúa tự kéo mình đứng dậy. Nhìn Sophie chăm chăm, Valeria gởi một lời chào thân thiện bằng một giọng rõ ràng là một thứ ngoại ngữ riêng tư.

“Oh,” Sophie thốt, cảm thấy ngốc nghếch kinh khủng.

“Tôi hiểu lòng cha mẹ là thế nào, bà Pendragon,” Nhà Vua đáp.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 5:19 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 14
Vị Pháp sư Hoàng gia lâm bệnh

Sophie trở về cổng Kingsbury của lâu đài trong cỗ xe ngựa hoàng gia, do bốn con ngựa kéo. Trên đó còn có một người đánh xe, một người giữ ngựa, và một người hầu cận. Một vệ binh và sáu kỵ binh hoàng gia theo sau để bảo vệ. Nguyên nhân là công chúa Valeria. Cô bé trèo vào ngồi trên đùi Sophie. Khi chiếc xe ngựa cồng cộc chạy xuống đồi, váy Sophie vẫn còn phủ đầy vết ướt nhẹp của Valeria. Sophie mỉm cười một chút. Cô nghĩ Martha có thể đã đúng, muốn sinh con đẻ cái, mặc dù có mười Valeria quả là hơi nhiều. Khi Valeria đang bò trong lòng cô, Sophie nhớ về tin đồn bà phù thủy đã đe dọa tiểu công chúa, và cô nói với bé, “Mụ phù thủy sẽ không đụng được tới cháu. Bà sẽ không cho phép!”

Đức Vua chẳng nói gì cả khi nghe những lời này, nhưng ngài truyền cỗ xe hoàng gia cho cô.

Cỗ xe dừng lại ồn ào huyên náo bên ngoài cái chuồng ngựa cải trang, Michael nhảy ra cửa, và chạy sầm vào người hầu cận đang giúp cô bước xuống. “Bà đã đi đâu vậy?” cậu nói. “Cháu lo lắng hết sức! Và anh Howl đang rất buồn bực…”

“Tôi biết ngay mà,” Sophie thấu hiểu.

“Bởi vì Pentstemmon phu nhân đã qua đời,” Michael tiếp.

Howl cũng ra ngoài cửa. Trông anh rất xanh xao và buồn bã. Anh đang cầm một cuộn giấy và dấu ấn xanh đỏ của hoàng gia đang đung đưa, mà Sophie nhìn với vẻ hối lỗi. Howl đưa cho người trưởng đòan một đồng vàng và không nói một lời đến khi nhóm người đi khỏi. Rồi anh nói, “Tôi đồ rằng bốn con ngựa và mười người hộ tống chỉ để tống khứ một bà già đi. Bà đã làm gì Đức Vua vậy?”

Sophie theo sau Howl và Michael vào nhà, tưởng sẽ nhìn thấy căn phòng đầy nhớt xanh. Nhưng không có, Calcifer đang bừng cháy sáng rỡ lên trên ống khói, cái miệng tím nhăn răng cười toe toét. Sophie ngã mình trên cái ghế. “Tôi cho là Nhà Vua đã phát bực với tôi cứ tìm gặp ổng và nói xấu cậu hoài. Tôi đã đi hai lần,” cô nói. “Mọi thứ đều có chuyện trục trặc hết. Và tôi đã gặp bà Phù thủy đang đi khi vừa giết chết Pentstemmon phu nhân. Một ngày dễ sợ!”

Trong Sophie kể lại mọi việc thì Howl dựa vào lò sưởi, tay đu đưa cái cuộn như là muốn quẳng cho Calcifer ăn. “Coi chừng vị Pháp sư Hoàng gia mới,” anh nói. “Tên ta rất là đen.” Và anh phá lên cười, mặc cho Sophie và Michael nhìn nhau ngơ ngác. “Và bà đã làm gì với Công tước Catterack nữa?” anh sặc sụa. “Tôi không nên để bà đến gần Đức Vua!”

“Tôi đã bôi đen tên cậu mà!” Sophie phản đối.

“Tôi biết. Đó là tính toán sai lầm của tôi,” Howl đáp. “Oy, làm sao để đi dự đám tang bà Pentstemmon mà không gây sự chú ý của bà phù thủy đây? Có ý kiến gì không, Calcifer?”

Rõ ràng là Howl buồn bã về cái chết của bà Pentstemmon hơn bất cứ cái gì hết.

Michael là người lo lắng về bà phù thủy. Cậu thú nhận sáng hôm sau là cậu đã có ác mộng cả đêm. Cậu đã mơ bà ta tấn công tòa lâu đài qua tất cả cánh cửa cùng một lúc. “Anh Howl đâu?” cậu băn khoăn hỏi.

Howl đã rời khỏi từ sáng sớm, căn phòng tắm sực nức hương thơm như thường lệ. Anh đã không cầm theo cây guitar, và nút vặn cửa chỉ màu xanh lục xuống. Ngay cả Calcifer còn biết chuyện hơn. “Đừng mở cửa cho bất cứ ai,” Calcifer nói. “Mụ phù thủy biết tất cả cánh cổng trừ cái ở Porthaven.”

Câu nói làm Michael cảnh giác đến mức cậu lượm vài thanh củi ở ngoài sân và gác nó lên cửa. Rồi cậu làm việc với câu thần chú lấy lại từ cô Angorian.

Nửa giờ sau, nút vặn cửa bị quay xuống chỉa thành màu đen. Cánh cửa bắt đầu nảy bật lên. Michael nắm chặt tay Sophie. “Đừng có sợ,” cậu run run thốt. “Cháu sẽ bảo vệ bà.”

Cánh cửa nảy lên mạnh mẽ một hồi lâu. Rồi nó ngừng lại. Michael chỉ vừa thả Sophie ra tưởng xong thì một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên. Các thanh gỗ văng ra xa trên mặt đất. Calcifer thụp sâu xuống bếp và Michael nhảy bổ vào kho chứa đồ, bỏ lại Sophie đứng chơ vơ ở đó khi cánh cửa bật mở ra và Howl nhảy vào.

“Thật là quá đáng đó, Sophie!” anh kêu lên. “Tôi cũng sống ở đây.” Mình anh ướt mẹp. Bộ áo xám đỏ trở thành đen nâu. Nước nhỏ lộp độp từ mái tóc và tay áo.

Sophie nhìn cánh cửa, vẫn còn quay xuống màu đen. Là cô Angorian, cô nghĩ. Và anh đã đến thăm cô ta trong bộ áo bị phù phép. “Cậu vừa ở đâu đó?” cô nói.

Howl hắt xì. “Đứng trong mưa. Không phải chuyện của bà,” giọng anh khàn khàn. “Mấy thanh gỗ kia để làm gì vậy?”

“Em làm đó,” Michael nói, lách ra khỏi kho chứa đồ. “Mụ phù thủy…”

“Chắc cậu nghĩ tôi không biết tôi đang làm gì sao,” Howl khó chịu đáp. “Tôi đặt nhiều bùa dẫn đường sai đến mức nhiều người hoàn toàn không tìm được chúng ta nữa. Tôi cho bà phù thủy ba ngày. Calcifer, tôi cần trà nóng.”

Calcifer vừa mới trèo lên mấy khúc củi, nhưng khi Howl lại gần lò sưởi, cậu ta lại thụp xuống. “Đừng có đến gần tôi như thế! Người cậu ướt nhẹp!” hỏa yêu hét.

“Sophie,” Howl năn nỉ.

Sophie khoanh tay không khoan nhượng. “Còn Lettie thì sao?” cô nói.

“Tôi bị ướt như chuột lột,” Howl đáp. “Tôi nên có tách trà nóng.”

“Và tôi nói, Còn Lettie Hatter thì sao?” Sophie trả lời.

“Không thèm bà nữa!” Howl kêu. Anh lắc mình. Nước từ người anh rớt xuống sàn xung quanh thành một vòng tròn. Howl bước ra khỏi nó với mái tóc đã khô ráo và bộ quần áo trở lại màu xám đỏ, không một chút ẩm ướt, và đi lấy cái chảo. “Thế giới đầy những phụ nữ nhẫn tâm, Michael,” anh nói. “Anh có thể nêu tên ba người mà không cần phải nghĩ ngợi.”

“Một trong số đó là cô Angorian chứ?” Sophie hỏi.

Howl không trả lời. Anh lờ Sophie hết cả buổi sáng còn lại trong lúc bàn chuyện dời tòa lâu đài với Michael và Calcifer. Howl sẽ thật sự bỏ trốn, y như cô đã cảnh cáo với Đức Vua, Sophie nghĩ lúc ngồi khâu các mảnh vải hình tam giác của bộ áo màu xanh bạc. Cô biết mình phải cởi bỏ bộ xám đỏ khỏi Howl càng sớm càng tốt.

“Tôi không nghĩ ta cần phải chuyển cổng Porthaven đi,” Howl nói. Anh làm phép hiện một cái khăn tay từ không khí và hỉ mũi thật mạnh làm Calcifer phải nhấp nhỏm bất ổn. “Nhưng tôi muốn tòa lâu đài càng xa những nơi khác mà nó từng qua càng tốt, và cổng Kingsbury phải đóng thôi.”

Vừa lúc đó có tiếng gõ cửa. Sophie để ý thấy Howl nhảy dựng lên và nhìn quanh ngại ngùng y như Michael. Không ai trong bọn họ trả lời. Chết nhát! Sophie khinh bỉ nghĩ. Cô không biết tại sao mình lại chịu những việc rắc rối cho Howl ngày hôm qua làm gì. “Mình đã điên thật rồi!” cô thì thầm với bộ áo xanh bạc.

“Còn cánh cổng đen thì sao?” Michael hỏi khi người gõ cửa dường như đã bỏ đi.

“Cái đó giữ,” Howl đáp, và phẫy tay lấy một cái khăn tay khác từ không khí.

Tất nhiên, Sophie nghĩ. Cô Angorian ở ngoài đó mà. Tội nghiệp Lettie!

Đến khoảng giữa buổi sáng, thì Howl phải lấy hai ba cái khăn tay một lượt. Sophie thấy chúng chỉ còn là mấy mảnh giấy vuông vuông. Anh hắt xì liên tục. Giọng khàn đi. Không lâu sau anh phải lấy một lúc cả sáu cái. Khăn xài rồi xếp đầy xung quanh Calcifer thành một đống.

“Ô, tại sao cứ mỗi lần đến Wales là tôi lại bị cảm!” Howl rên rỉ và phẩy tay lấy ra một nhúm khăn giấy.

Sophie khịt mũi.

“Bà nói gì đó?” Howl khò khè.

“Không, tôi đang nghĩ mấy người hay chạy trốn thì đáng bị cảm lạnh lắm,” Sophie đáp. “Mấy người được Đức Vua chỉ định làm việc mà lại đi tán gái ở dưới mưa thì còn than trách ai nữa.”

“Bà không biết mọi chuyện mà tôi làm, bà Đạo Đức ạ,” Howl trả lời. “Muốn tôi viết danh sách mỗi khi tôi ra ngoài hay không? Tôi đã đi tìm Vương gia Justin rồi. Tán gái đâu phải là điều duy nhất tôi làm khi đi ra ngoài đâu.”

“Cậu tìm hồi nào?” Sophie hỏi.

“Ồ, xem đôi tai ve vẩy và cái mũi dài xoay kìa!” Howl khò khè tiếp. “Tôi tìm khi ông ta vừa biến mất, dĩ nhiên. Tôi tò mò muốn biết tại sao Justin lại đi đến chỗ này, khi mọi người đều biết Suliman đã đi đến vùng Hoang Phế. Tôi nghĩ có người đã bán thần chú tìm kiếm giả mạo cho ông ta, bởi vì ông ấy đi thẳng đến Folding Valley và mua cái nữa từ bà Fairfax. Điều đó lại dẫn ông trở về hướng này, tất nhiên, nơi ông dừng lại ở lâu đài và Michael lại bán một cái thần chú tìm kiếm, và hóa trang…”

Tay Michael chụp lên miệng. “Vậy cái anh bận quân phục màu xanh đó là Vương gia Justin hả?”

“Đúng, nhưng anh đã không nhắc chuyện đó trước kia,” Howl đáp, “bởi vì Đức Vua có thể nói sao cậu không bán cho ông ta một cái bùa giả nữa. Tôi có lương tâm đấy. Lương tâm. Chú ý từ đó, bà Mũi Dài. Tôi có lương tâm.” Howl lại phù phép một nùi khăn giấy nữa và quắc nhìn Sophie với cặp mắt giờ đã đỏ ngầu và sũng nước. Rồi anh đứng dậy. “Tôi muốn bệnh,” anh tuyên bố. “Tôi đi nằm chết đây.” Anh bước đi xiêu vẹo lên cầu thang một cách đáng tội nghiệp. “Hãy chôn tôi cạnh bà Pentstemmon,” anh khò khè nói.

Sophie ép mình phải càng khâu nhanh hơn bao giờ. Đây là cơ hội để cô gỡ bỏ bộ xám đỏ khỏi người Howl trước khi nó làm hủy hoại trái tim của cô Angorian – trừ khi, dĩ nhiên, là Howl nằm ngủ với nguyên bộ quần áo đó, chuyện mà cô cho là Howl dám làm lắm. Vậy là Howl đã đi tìm Justin từ khi ông ta lên Upper Folding và gặp Lettie. Lettie đáng thương! Sophie nghĩ, tay thoăn thoắt thêu từng đường kim mũi chỉ nhỏ nhắn, dứt khoát quanh cái tam giác xanh thứ năm mươi bảy. Chỉ còn khoảng bốn chục cái nữa là xong.

Tiếng Howl la lên yếu ớt, “Giúp tôi với! Tôi đang chết vì bị bỏ rơi ở trên đây đây!”

Sophie khì mũi. Michael bỏ cái bùa chú đang làm để chạy lên chạy xuống cầu thang. Mọi việc đều rối ren. Trong thời gian Sophie khâu hơn mười tam giác xanh, Michael chạy lên cầu thang với chanh và mật ong, với một quyển xách, với nước trị ho, với một cái muỗng để khuấy nước trị ho, rồi với nước nhỏ mũi, kẹo the, kem súc miệng, bút, giấy, ba quyển sách, và một chén nước ép vỏ cây liễu. Người ta cứ đến gõ cửa hòai, làm Sophie giật nảy mình và Calcifer nhấp nháy sợ sệt. Khi không ai mở cửa, một vài người tiếp tục đập thình thình khoảng năm phút hơn, nghĩ rất đúng là mình đang bị lờ đi.

Đến lúc này thì Sophie lo cho bộ áo xanh bạc. Nó càng lúc càng nhỏ dần. Không thể nào khâu hàng đống mảnh tam giác đó mà không tốn vải. “Michael,” cô nói khi Michael chạy vội xuống cầu thang lần nữa bởi vì Howl muốn ăn trưa bằng bánh mì kẹp thịt xông khói. “Michael, có cách nào làm áo nhỏ to hơn không?”

“Dạ, được,” Michael đáp. “Đó là cái thần chú mới của cháu mà – khi cháu có cơ hội nghiên cứu nó. Anh Howl muốn sáu miếng thịt xông khói trong bánh mì. Bà có thể nói với Calcifer được không?”

Sophie và Calcifer liếc mắt nhìn nhau. “Tôi không nghĩ Howl đang chết,” Calcifer nói.

“Tôi sẽ cho cậu ăn vụn bánh nếu cậu chịu cúi đầu,” Sophie đáp, đặt kim chỉ xuống. Dụ dỗ Calcifer thì dễ hơn là ăn hiếp cậu ta.

Bọn họ ăn trưa bằng bánh mì kẹp thịt xông khói, nhưng Michael phải chạy vội lên cầu thang giữa bữa ăn. Howl bảo cậu đi Market Chipping để mua một vài thứ cần thiết cho việc chuyển dời tòa lâu đài.

“Nhưng còn bà phù thủy … có an toàn không?” Sophie hỏi.

Michael liếm mỡ thịt xông khói trên ngón tay và lao vào trong kho chứa đồ. Cậu bước ra với một cái áo choàng nhung đầy bụi vắt trên vai. Cuối cùng, người đi ra ngoài bận áo choàng là một người đàn ông vạm vỡ râu đỏ. Người đó mút ngón tay và nói bằng giọng của Michael, “Anh Howl nói cháu làm vậy là an toàn rồi. Nó có cả thần chú chỉ đường sai và hóa trang nữa. Không biết Lettie có nhận ra cháu không.” Người đàn ông vạm vỡ mở cửa xanh lục xuống và nhảy ra cánh đồi bên ngòai.

Yên tĩnh đã trở lại. Calcifer cũng lắng xuống và kêu tí tách. Howl rõ ràng cũng nhận ra rằng Sophie sẽ không chạy quanh trông chừng anh. Trên lầu hoàn tòan im ắng. Sophie đứng dậy và len lén đi đến kho chứa đồ. Đây là cơ hội để cô đi thăm Lettie. Lettie có lẽ đang rất khốn khổ. Sophie chắc là Howl đã không gặp cô bé từ ngày ấy trong vườn. Nếu Sophie bảo Lettie là tình cảm của cô chỉ vì cái áo bị phù phép thì sẽ an ủi được phần nào. Dù sao, cô cũng nợ Lettie một lời giải thích.

Đôi hài bảy dặm không còn nằm trong tủ. Thoạt đầu Sophie không thể tin được. Cô lôi mọi thứ ra. Và không có gì nữa ngoài mấy cái thùng nước, chổi, và một cái áo choàng nhung khác. “Quỷ sứ mắc dịch!” Sophie kêu. Howl rõ ràng không muốn cô theo dõi anh nữa.

Cô đặt mọi thứ trở lại vào trong tủ khi có tiếng gõ cửa. Sophie, như thường lệ, giật mình và hi vọng họ sẽ đi đi. Nhưng người này có quyết tâm hơn cả. Tiếng gõ cửa vẫn vang lên – hoặc có lẽ là tiếng giộng mình vào cửa, bởi vì âm thanh phát ra là tiếng whump, whump, whump đều đặn hơn. Sau năm phút mà người đó vẫn tiếp tục đập cửa.

Sophie nhìn những tia lửa xanh tí tách, là tất cả Calcifer mà cô có thể nhìn thấy. “Phải bà phù thủy không?”

“Không,” Calcifer lúng búng dưới mấy khúc củi. “Cánh cửa tòa lâu đài. Người nào đó hẳn đang chạy cạnh chúng ta. Chúng ta đang đi rất nhanh.”

“Có phải là con bù nhìn không?” Sophie hỏi, tim cô đập thình thình trước ý nghĩ đó.

“Nó có máu thịt,” Calcifer đáp. Khuông mặt xanh dương trèo lên đỉnh ống khói, băn khoăn. “Tôi không biết là gì nữa, trừ một chuyện là nó muốn vào trong lắm. Tôi không nghĩ nó có thể gây hại.”

Bởi vì tiếng whump whump vẫn còn tiếp tục, làm cho Sophie có cảm giác khó chịu như mình bị hối thúc, cô quyết định mở cửa, và ngừng nó lại. Hơn nữa, cô cũng tò mò muốn biết nó là gì. Cô vẫn còn nắm cái áo choàng nhung thứ hai trong tay sau khi lục tung cả cái kho chứa đồ lên. Vì thế, cô ném nó qua vai khi cô đi ra cửa. Calcifer ngó sững. Và, lần đầu tiên từ khi cô biết hỏa yêu, cậu ta tự động cúi đầu xuống. Tiếng cười khùng khục phát ra từ dưới những ngọn lửa xanh dương xoăn tít. Băn khoăn không biết áo choàng đã biến cô thành gì, Sophie mở cửa.

Một chú chó săn khổng lồ nhảy chồm lên từ ngòai sườn đồi giữa những khối đen của tòa lâu đài và hạ chân vào trong giữa phòng. Sophie thả áo choàng xuống và chạy vội ra sau. Cô luôn sợ chó, và chó săn lại càng không có vẻ gì làm cô yên lòng cả. Con này đặt mình chặn giữa cô và cánh cửa, rồi ngó cô chằm chằm. Sophie liếc những tảng đá đang chạy và đồng cỏ thiên thanh bên ngoài, tự hỏi không biết có nên gọi Howl không.

Con chó cong cái lưng đã cong lại và bằng cách nào đó kéo thân mình nó đứng lên trên hai chân. Nó gần cao bằng Sophie. Hai chân trước giơ ra cứng nhắc và lại rướn thẳng nữa. Vừa lúc Sophie há miệng ra tính kêu Howl, con vật đưa ra một nỗ lực hết sức mạnh mẽ và bật thẳng lên biến thành hình dáng của một người đàn ông bận đồ màu xám nhăn nhúm. Y có mái tóc màu gừng và khuôn mặt xanh xao, buồn bã.

“Từ Upper Folding tới!” người-chó nói hổn hển. “Yêu Lettie… Lettie kêu tôi đến… Lettie khóc và rất buồn… kêu tôi đến với cô… bảo tôi ở lại…” Y bắt đầu gập mình và thu nhỏ lại trước khi nói hết. Y tru lên tuyệt vọng và khó chịu. “Đừng nói với Pháp sư!” y rên rỉ và thu mình trong mái tóc đỏ xoăn thành một một con chó trở lại. Một con chó khác. Lần này y là con lông xù màu đỏ. Con chó lông xù đỏ lúc lắc cái đuôi ngắn và hai mắt khốn khổ của nó nhìn Sophie khẩn khoản, van xin.

“Ồ, trời phật ơi,” Sophie nói khi đóng cửa lại. “Ông bạn thật đúng là gặp rắc rối. Ông là con chó xám đó phải không? Bây giờ tôi hiểu dì Fairfax đã nói gì. Mụ phù thủy đúng là muốn bị giết mà, đúng thật sự! Nhưng tại sao Lettie lại cho ông đến đây? Nếu ông không muốn tôi nói với pháp sư Howl…”

Con chó gầm gừ nho nhỏ khi nghe cái tên đó. Nhưng nó cũng ve vẩy đuôi và nhìn cầu khẩn.

“Được rồi. Tôi sẽ không nói với Howl,” Sophie hứa. Con chó có vẻ yên lòng. Y chạy đến cạnh lò sưới, liếc Calcifer thận trọng và nằm xuống cạnh thanh cời lửa, mình cuộn thành một đống lông đỏ nhỏ nhắn. “Calcifer, cậu nghĩ sao?” Sophie cất tiếng.

“Con chó này là một người bị nguyền,” Calcifer nói điều tất nhiên.

“Tớ biết, nhưng cậu có thể tháo bỏ lời nguyền không?” Sophie hỏi. Cô đoán Lettie đã nghe đồn, như nhiều người khác, là Howl đang có một bà phù thủy làm việc cho anh. Và dường như việc biến con chó thành người đàn ông, để ông ta trở về Upper Folding trước khi Howl thức dậy và nhìn thấy ông ta, trở nên quan trọng.

“Không. Tôi cần liên kết với Howl để làm thế,” Calcifer đáp.

“Được rồi, để tôi thử một mình,” Sophie nói. Lettie đáng thương! Bị Howl bỏ rơi, và người đàn ông khác lại là một con chó hầu hết thời gian! Sophie đặt bàn tay lên cái đầu tròn trịa, mềm mại của con chó. “Trở lại thành người đàn ông đi,” cô nói. Cô lặp lại nhiều lần, nhưng điều đó chỉ làm con chó ngủ say hơn. Nó ngáy và cuộn quanh chân Sophie.

Trong khi đó, trên lầu lại vang lên tiếng nhiều tiếng rên rỉ. Sophie vẫn tiếp tục thì thầm với con chó và lờ đi tiếng rên. Một tràng ho xé ruột thật là to theo sau, lịm vào nhiều tiếng kêu rên. Sophie cũng giả vờ không nghe. Tiếng hỉ mũi ầm ầm theo sau tiếng ho, mỗi cái làm long cả cửa sổ và cửa chính. Sophie thấy khó mà lờ đi được, nhưng cô cũng cố gắng. Pooot-pooooot! tiếng hỉ mũi tiếp tục, như tiếng kèn trong một đường hầm. Và tiếng ho lại cất lên, xen lẫn tiếng rên la. Những cái hắt hơn xen lẫn tiếng rên, và tiếng ho, và âm thanh trở thành một giàn giao hưởng mà Howl tự mình đạo diễn ho, rên, hỉ mũi, hắt hơi, và rên nhẹ nhàng cùng một lúc. Cánh cửa lung lay, xà nhà rung chuyển, và một cây củi của Calcifer lăn xuống sàn.

“Được rồi, được rồi, tôi hiểu ý anh rồi!” Sophie kêu, liệng khúc củi trở lại vào trong lò. “Sẽ có nhớt xanh kế tiếp chứ gì. Calcifer, canh chừng con chó đó nha.” Rồi cô ì ạch leo cầu thang, miệng lầm bầm lớn tiếng, “Thiệt tình, mấy gã pháp sư! Làm như là từ trước đến nay chưa có ai bị cảm vậy đó! Well, cái gì thế?” cô hỏi, tập tễnh xuyên qua cánh cửa phòng và bước lên tấm thảm bẩn thỉu.

“Tôi đến chết vì buồn chán mất,” Howl rên rỉ đáng thương. “Hay là chỉ đang chết thôi.”

Anh đang nằm trong đống gối xám dơ bẩn, trông rất tiều tụy, trên mình phủ một cái có lẽ là tấm khăn trải giường, chỉ có điều là nó cùng một màu với bụi bặm. Bọn nhền nhện mà anh yêu mến thì đang bận rộn giăng tơ ngay trên đầu giường.

Sophie rờ trán anh. “Cậu bị sốt một chút,” cô thú nhận.

“Tôi mê sảng rồi,” Howl đáp. “Những đốm đen đang bò trước mắt tôi.”

“Đó là mấy con nhện,” Sophie nói. “Tại sao cậu không tự chữa mình bằng thần chú đi?”

“Bởi vì không có cách nào chữa cảm,” Howl ai oán nói. “Mọi chuyện cứ quay mòng mòng trong đầu tôi – hay có lẽ đầu tôi đang quay mòng mòng quanh mọi chuyện. Tôi cứ nghĩ về những lời trong câu thần chú của bà phù thủy. Không ngờ bà ta có thể bắt được tôi dễ dàng như thế. Bị bắt rất là xấu mặc dù mọi thứ đến giờ đều là tại tôi làm hết. Tôi chỉ chờ cho các thứ còn lại xảy ra thôi.”

Sophie nhớ lại những câu đố trong bài thơ. “Thứ gì chứ? ‘Kể tôi nghe những năm tháng qua ở đâu’?”

“Oh, tôi biết,” Howl nói. “Của chính tôi, không ai khác. Chúng ở đó, ở nơi mà chúng thường ở. Tôi có thể đi và hóa thành tiên xấu tại lễ rửa tội của tôi nếu muốn. Có lẽ tôi đã làm thế và đó là nguyên nhân của mọi sự rắc rối. Không, có ba thứ tôi đang chờ đợi: mỹ nhân ngư, rễ ớt ma, và cơn gió thúc đẩy tâm trí thật thà. Và xem tôi có tóc trắng hay không, có lẽ, chỉ là tôi không thể xóa bỏ thần chú đó được để xem. Chỉ còn ba tuần nữa là chúng sẽ đến, và bà phù thủy sẽ bắt được tôi. Nhưng mà Cuộc Hội Ngộ của Câu Lạc Bộ Rugby là hôm trước ngày Hạ Chí, nên ít nhất tôi cũng xem được nó. Những cái khác đã xảy ra từ lâu rồi.”

“Ý cậu là ngôi sao sa và không thể nào tìm được người phụ nữ xinh đẹp và thật lòng đó hả?” Sophie đáp. “Tôi không ngạc nhiên, với cách cậu xử sự. Bà Pentstemmon nói với tôi là cậu đang đi về hướng xấu. Bà nói đúng, phải không?”

“Tôi phải đến dự tang lễ của bà ngay cả khi không còn mạng,” Howl buồn bã. “Bà Pentstemmon lúc nào cũng nghĩ tốt về tôi. Sự quyến rũ đã làm bà mù quáng.” Nước trào ra từ mắt anh. Sophie không biết là anh có thật sự khóc hay chỉ là cơn bệnh. Nhưng cô để ý là anh đang trườn đi lần nữa.

“Tôi đang nói tới cái cách cậu cứ bỏ con người ta ngay khi cậu làm người ta thích cậu,” cô phán. “Tại sao lại làm vậy?”

Howl giơ ngón tay run run chỉ lên thành giường. “Đó là nguyên nhân tôi thích nhền nhện,” anh nói. “Nếu không thành công thì cố, cố, cố lần nữa.’ Tôi cứ cố gắng hòai,” giọng anh buồn bã. “Nhưng tôi đã tự mình hại mình khi làm cuộc trao đổi đó mấy năm trước, và tôi biết tôi sẽ không còn yêu ai được nữa.”

Nước chảy ra khỏi mắt Howl bây giờ chắc chắn là nước mắt. Sophie lo lắng. “Nào, cậu không nên khóc…”

Có tiếng kêu lộp độp bên ngoài. Sophie quay lại và nhìn thấy người chó đang thu mình thành một cuộn tròn để cố lách qua cánh cửa. Cô vươn tay, và nắm một nắm lông đỏ, cho rằng y sẽ nhất định cắn Howl. Nhưng con chó chỉ dụi vào chân cô làm cô phải lảo đảo dựa vào tường.

“Cái gì vậy?” Howl hỏi.

“Con chó mới của tôi,” Sophie nói, tay nắm chặt lông nó. Bây giờ cô đang dựa vào tường, cô có thể nhìn qua cửa sổ phòng ngủ. Đáng lẽ nó phải nhìn ra sân sau, nhưng nó lại hiện một khu vườn hình vuông, đẹp đẽ với cái xích đu ở giữa. Sophie nhìn thấy cháu gái của Howl, cô bé Mari, chạy trên thảm cỏ xanh mướt. Chị Howl, Megan, theo sau Mari. Cô đang la Mari không nên ngồi trên xích đu còn ướt, nhưng không có tiếng gì vang lên. “Không phải là xứ Wales đó sao?” Sophie hỏi.

Howl phá ra cười, tay đập đập trên khăn trải giường. Bụi bay mờ mịt như khói. “Con chó mắc dịch!” anh khào khào. “Tôi đã cá với mình là tôi có thể giữ không cho bà ngó ra ngoài cửa sổ lúc bà ở trong phòng này.”

“Có thật không?” Sophie đáp, và cô buông con chó ra, hi vọng nó sẽ cắn Howl thật mạnh. Nhưng con chó chỉ tiếp tục dúi vào cô, đẩy cô ra cửa. “Vậy là tất cả bài hát và nhảy múa hồi nãy chỉ là một trò chơi, phải không?” cô nói. “Tôi phải biết chứ!”

Howl ngả người ra trên cái gối xám, vẻ tổn thương. “Có khi,” anh khiển trách, “bà nói cứ như là Megan.”

“Có khi,” Sophie trả lời, suỵt đuổi con chó ra khỏi phòng, “tôi hiểu tại sao Megan lại trở thành như thế.” Rồi cô sập cửa lên mấy con nhện, bụi bặm, và khu vườn một cái rầm.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 5:20 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 15
Howl dự đám tang trong lớp ngụy trang

Người-chó cuộn tròn người và đè lên chân Sophie khi cô trở về công việc khâu vá của mình. Có lẽ y hi vọng cô sẽ tháo gỡ lời nguyền nếu cu71 ở gần cô. Một người đàn ông to lớn, râu đỏ tung cửa vào nhà, tay khệ nệ bưng một cái hộp đầy đồ, và tháo cái áo khoác nhung thành Michael, vẫn còn bưng cái hộp ắp, người-chó ngồi dậy và lắc lư cái đuôi. Y để Michael vỗ đầu và vuốt tai.

“Hi vọng nó sẽ ở lại,” Michael nói. “Cháu luôn muốn có một con chó.”

Howl nghe tiếng Michael. Anh xuống cầu thang quấn trong cái khăn trải giường màu nâu. Sophie ngừng tay khâu và cẩn thận níu chặt con chó. Nhưng nó cũng rất ngoan ngoãn với Howl, không tỏ vẻ phản đối khi Howl đưa tay ra khỏi cái khăn trải giường và vỗ đầu nó.

“Sao rồi?” Howl khàn khàn, tỏa ra từng đám bụi mờ khi anh rút khăn tay ra từ không khí.

“Em mua được hết,” Michael nói. “Và thật là may mắn đó anh Howl. Có một cái tiệm đang rao bán ở dưới Market Chipping. Một tiệm nón cũ. Anh nghĩ mình nên chuyển tòa lâu đài xuống đó không?”

Howl ngồi trầm ngâm trên cái ghế cao trong miếng vải quấn quanh người như một viên nghị sĩ La Mã xưa. “Tùy theo giá của nó nữa,” anh nói. “Tôi cũng muốn chuyển cổng Porthaven tới đó. Nhưng sẽ không dễ đâu, bởi vì chuyện đó có nghĩa là phải chuyển cả Calcifer nữa. Porthaven là nơi ở thực chất của Calcifer. Cậu nghĩ sao hả, Calcifer?”

“Tớ mà chuyển đi thì mệt lắm,” Calcifer đáp. Cậu ta đã trở nên xanh xao hơn với ý nghĩ đó. “Cậu để tớ ở chỗ cũ thì hơn.”

Vậy là dì Fanny đang bán cửa tiệm, Sophie nghĩ khi ba người còn lại tiếp tục thảo luận về việc dời nhà. Vậy là xong cái lương tâm mà Howl tự khoe là có! Nhưng ý chính trong đầu cô là cách cư xử kỳ lạ của con chó. Mặc dù Sophie nói nhiều lần là cô không thể cởi bỏ lời nguyền được, y hoàn tòan không có vẻ gì muốn bỏ đi. Y không muốn cắn Howl. Y để Michael dắt đi chạy bộ trong Porthaven Marshes tối đó và sáng hôm sau. Mục tiêu của y dường như là trở thành một phần tử của gia đình.

“Nếu ta là ngươi, ta sẽ trở về Upper Folding để chăm sóc Lettie không cho nó yêu người khác,” Sophie bảo.

Howl cứ liên tục đi nằm rồi lại đi ra khỏi giừơng cả ngày. Khi anh nằm trong giường, Michael phải chạy bở hơi tai lên xuống cầu thang. Khi anh dậy, Michael phải vắt chân lên cổ, đo tòa lâu đài và đặt dấu kim loại vào mỗi góc nhà. Xen kẽ vào những lúc ấy, là Howl cứ hiện ra, mình quấn trong tấm khăn trải giường và đám mây bụi, hỏi han và thông báo, phần lớn là nói với Sophie.

“Sophie, bà là người đã tẩy trắng các dấu ấn chúng tôi làm khi tạo nên lâu đài, có lẽ bà có thể cho tôi biết các dấu ấn trong phòng Michael ở đâu.”

“Không,” Sophie đáp, tay khâu miếng vải hình tam giác thứ bảy mươi. “Tôi không biết.”

Howl hắt hơi buồn bã và đi nằm. Không lâu sau anh hiện ra nữa. “Sophie, nếu ta mua cái tiệm nón đó, thì ta sẽ bán gì?”

Sophie nhận ra mình đã chán chê nón đến tận cổ. “Không phải nón,” cô trả lời. “Mua được cửa hàng, nhưng không thể mua được doanh nghiệp, cậu biết đấy.”

“Áp dụng tâm trí quỷ quái của bà vào chuyện đó đi,” Howl nói. “Thậm chí là suy nghĩ, nếu bà biết cách.” Và anh lại bước lên trên lầu.

Năm phút sau, anh trở lại. “Sophie, bà có ý tưởng nào cho những cái cổng khác không? Bà muốn ta sống ở đâu?”

Sophie tức thời nghĩ đến căn nhà của dì Fairfax. “Tôi thích một căn nhà với nhiều hoa,” cô nói.

“Hiểu rồi,” Howl cất giọng khàn khàn và quay đi.

Lần sau gặp, anh đã đóng bộ đàng hoàn. Đó là lần thứ ba trong ngày, và Sophie không nghĩ gì cho đến khi Howl đặt lên áo khoác nhung Michael đã dùng và biến thành một người đàn ông râu đỏ, xanh xao, ho hen, với một cái khăn tay đỏ gắn trên mũi. Cô nhận ra Howl đang sắp đi ra ngòai. “Cậu sẽ bệnh nặng hơn cho coi,” cô nói.

“Tôi sẽ chết và mấy người sẽ hối hận,” người đàn ông râu đỏ nói, và đi ra cửa với nút vặn xuống màu xanh lơ.

Trong một giờ sau, Michael phải có thời gian để nghiên cứu tiếp cái thần chú. Sophie tiếp tục khâu đến miếng tam giác thứ tám tư. Rồi người râu đỏ trở lại. Ông bỏ áo khoác nhung và biến thành Howl, càng ho dữ dội hơn trước, và, nếu còn có thể, tự thấy thương cảm cho mình hơn bao giờ.

“Anh đã mua cái tiệm,” anh bảo Michael. “Đằng sau nó có cái nhà kho rất tiện lợi và một căn nhà kế bên, anh mua đứt hết. Không biết sẽ trả bằng gì giờ.”

“Vậy còn khoản tiền nếu anh tìm được Vương gia Justin thì sao?” Michael hỏi.

“Cậu quên,” Howl khò khè, “mục đích của cả cái hành động này là để không phải tìm Justin. Chúng ta sẽ biến mất.” Rồi anh ho sù sụ lên phòng, nơi anh bắt đầu những cái hỉ mũi rung chuyển cả xà nhà để gợi sự chú ý lần nữa.

Michael phải bỏ câu thần chú lại và phóng lên cầu thang. Sophie đã định đi, nhưng người-chó cản lại. Đó là một hành vi kì lạ của y nữa. Y không thích Sophie làm gì cho Howl. Sophie cảm thấy đó là một lý do khá hợp lý. Cô bắt đầu làm tiếp miếng tam giác thứ tám mươi lăm.

Michael phấn khởi bước xuống nhà và lại nghiên cứu câu thần chú nữa. Cậu bé vui đến nỗi hòa ca với bài hát chảo chiên của Calcifer và trò chuyện với cái sọ người cũng như Sophie. “Chúng ta sẽ cùng sống ở Market Chipping,” cậu nói. “Cháu sẽ thăm em Lettie mỗi ngày.”

“Đó là nguyên nhân cậu bảo Howl về cửa tiệm đó à?” Sophie hỏi, tiếp tục khâu vá. Đây là cái hình tam giác thứ tám mươi chín của cô.

“Vâng,” Michael vui vẻ nói. “Lettie kể cho cháu nghe khi hai đứa đang không biết làm cách nào gặp lại được. Cháu bảo em…”

Lời cậu nói bị Howl, đang thướt tha xuống cầu thang trong bộ khăn trải giường, cắt ngang. “Lần này chắc chắn là lần xuất hiện cuối cùng của tôi,” Howl nói. “Tôi quên nói là đám tang bà Pentstemmon cử hành ngày mai ở biệt thự gần Porthaven, và tôi cần bộ quần áo này giặt sạch sẽ.” Anh thò tay lấy bộ áo xám đỏ từ trong khăn quấn và thả xuống đùi Sophie. “Bà đang khâu sai bộ rồi,” anh bảo Sophie. “Đây mới là bộ áo mà tôi thích, nhưng tôi không đủ năng lượng để giặt nó.”

“Anh có cần thiết phải đi dự tang lễ?” Michael băn khoăn hỏi.

“Tôi không dám nghĩ đến việc không đi,” Howl đáp. “Bà Penstemmon đã đào tạo tôi thành một pháp sư ngà nay. Tôi phải đi phúng điếu.”

“Nhưng bệnh của anh nặng hơn rồi,” Michael nói.

“Tự cậu ta làm mình bệnh nặng hơn,” Sophie tiếp, “cứ lên lên xuống xuống chạy vòng vòng.”

Howl lập tức khoác bộ mặt trang trọng nhất. “Tôi sẽ không sao,” anh khò khè, “chỉ cần không gặp gió biển thôi. Đó là một nơi khắc nghiệt, biệt thự Pentstemmon. Hàng cây đều cong vẹo và không có chỗ trú chân hàng dặm.”

Sophie biết anh chỉ đóng vai đáng thương tội nghiệp. Cô khì mũi.

“Còn mụ phù thủy thì sao?” Michael hỏi.

Howl lại ho. “Tôi sẽ hóa trang, có thể là vai một xác chết khác,” anh nói, lướt thướt quay lên trên cầu thang.

“Vậy thì cậu cần khăn liệm, không phải bộ áo này,” Sophie nói với với theo. Howl không trả lời. Sophie cũng không nói thêm. Bây giờ cô đã có bộ áo bị phù phép trong tay, một cơ hội hiếm có. Cô lấy cái kéo và cắt bộ xám đỏ thành bảy miếng rách nát. Chắc chắn Howl sẽ không thèm đến nó nữa. Rồi cô trở lại công việc khâu vá những miếng tam giác cuối cùng của bộ áo xanh bạc, hầu hết là xung quanh cổ. Bộ áo bây giờ rất là nhỏ, còn không vừa cho những cậu bé tiểu đồng của bà Pentstemmon nữa.

“Michael,” cô nói. “Làm nhanh cái thần chú đó lên. Việc gấp lắm.”

“Không còn lâu nữa đâu,” Michael đáp.

Nửa giờ sau, Michael đánh dấu danh sách của mình và nói là cậu đã sẵn sàng. Cậu bé mang một cái chén nhỏ chứa một tí xíu bột màu xanh đến cho Sophie. “Bà muốn làm to ở đâu?”

“Đây,” Sophie nói, tay cắt sợi chỉ cuối cùng. Cô đẩy người-chó qua một bên để trải bộ áo con nít trên sàn nhà. Michael, rất thận trọng, nghiêng cái chén và rải bột lên trên áo.

Cả hai chờ đợi, khá sốt ruột.

Một giây trôi qua. Michael thở phào nhẹ nhõm. Cái áo nhẹ nhàng giãn ra bự hơn. Hai người trông nó từ từ giãn ra, giãn ra, cho đến khi một bên áo cuộn thành đống cạnh người-cho và Sophie phải kéo nó ra cho rộng.

Sau cỡ năm phút, cả hai đều đồng ý là bộ áo trông vừa với Howl rồi. Michael cầm nó lên và cẩn thận rũ bột dư vào trong lò sưởi. Calcifer rực sáng lên càu nhàu, làm người-chó phải nhảy dựng lên trong giấc ngủ.

“Cẩn thận ấy!” Calcifer hét. “Bột mạnh.”

Sophie lấy bộ áo và nhón chân rón rén lên cầu thang. Howl vẫn ngủ say trên những cái gối xám, nhền nhện bận bịu giăng tơ xung quanh. Anh có vẻ nghiêm trang và đáng thương trong giấc ngủ. Sophie rón rén đặt bộ quần áo xanh bạc trên cái rương cũ kỹ cạnh cửa sổ, trấn an mình là nó không lớn lên thêm kể từ khi cô cầm nó trong tay. “Tuy vậy, nếu nó làm cậu không đi đám tang được thì cũng không có gì đáng tiếc,” cô thì thầm khi nhìn ra ngoài cửa sổ.

Mặt trời ngòai sân bắt đầu xuống thấp. Một người đàn ông cao lớn ở đó, ông nhiệt tình quẳng một trái bóng đỏ cho cháu trai của Howl, Neil. Cậu bé đứng với vẻ lặng lẽ chịu đựng, tay nắm cây chày. Sophie có thể nhận ra người đó là cha của Neil.

“Lại rình mò,” Howl thình lình nói sau lưng. Sophie quay lại vẻ hối lỗi, và thấy Howl vẫn còn nửa tỉnh nửa mê. Anh có thể nghĩ bây giờ là hôm qua, bởi vì anh nói, “ ‘Dạy tôi tránh khỏi vết chích của ghen tị’ – đó chỉ là một phần của quá khứ. Tôi yêu xứ Wales, nhưng nó không yêu tôi. Megan lúc nào cũng đầy ganh tị bởi vì chị ấy là người có mặt mũi mà tôi thì không.” Rồi anh tỉnh hơn một chút, và hỏi, “Bà làm gì ở đây vậy?”

“Chỉ mang cái áo đến thôi,” Sophie đáp và nhanh chóng lạch bạch ra khỏi phòng.

Howl chắc đã ngủ lại. Anh không xuất hiện cho đến buổi tối. Sáng hôm sau vẫn không có dấu hiệu anh sẽ tỉnh dậy. Sophie và Michael cẩn thận không đánh thức anh. Không ai cho việc đi dự đám tang bà Pentstemmon là sáng suốt. Michael lén đi ra ngòai đồi để dẫn người-chó chạy bộ. Sophie kiễng chân đi rón rén trong nhà, chuẩn bị bữa sáng, hi vọng Howl sẽ ngủ dậy muộn. Vẫn không có dấu hiệu gì của Howl khi Michael trở về. Người-chó đói rã rượi. Sophie và Michael đang lục lọi trong nhà kho để kiếm thức ăn chó thì nghe tiếng Howl chầm chậm xuống cầu thang.

“Sophie,” giọng Howl buộc tội cô.

Anh đứng đó giữ cánh cửa trước cầu thang mở toang ra với một cánh tay hoàn toàn giấu trong tay áo màu xanh bạc mênh mông. Chân anh, trên bậc thang dưới, đang đứng trong nửa phần trên cái túi của cái khoác. Cánh tay kia của Howl không đến gần được cái cánh tay áo còn. Sophie có thể nhìn thấy đường viền của tay, đang khua khua dưới cái cổ áo rộng lớn. Phía sau Howl, những bậc thang phủ đầy chùm vải màu xanh bạc kéo đến phòng ngủ của anh.

“Oh, chời!” Michael thốt. “Howl, là lỗi của em, em…”

“Lỗi em? Hừ!” Howl đáp. “Tôi có thể nhận diện ngay bàn tay của Sophie từ một dặm xa. Và cái bộ áo này có đến vài dặm lận. Sophie thân mến, bộ áo kia của tôi đâu?”

Sophie vội vàng đem những mảnh của bộ áo xám đỏ ra khỏi phòng chứa đồ, nơi cô cất giấu.

Howl xem xét. “Well, thiệt tình mà.” Anh nói. “Tôi tưởng nó phải quá nhỏ để mà nhìn thấy. Đem nó lại đây, tất cả bảy miếng.” Sophie giơ đống vải xám đỏ cho anh. Howl phải mất một lúc mới tìm thấy bàn tay mình trong đống gấp của cánh tay áo màu xanh bạc và thò tay qua vết khâu khổng lồ giữa hai sợi chỉ. Anh chụp lấy bó vải trong tay cô. “Bây giờ tôi,” anh nói, “sẽ chuẩn bị đi dự tang lễ. Làm ơn đi, cả hai người, ráng đừng làm bất cứ việc gì cả trong khi tôi vắng mặt. Tôi có thể nhìn thấy Sophie đang rất khỏe mạnh trong giờ phút này, và tôi muốn căn phòng này vẫn giữ nguyên kích thước khi tôi trở lại.”

Anh ngẩng cao đầu hết sức kiêu hãnh đi vào buồng tắm, chân lội qua đống vải của bộ áo xanh bạc. Phần còn lại của bộ áo theo sau anh, kéo lê từng bậc thang một và kêu xào xạc trên sàn nhà. Lúc anh khuất trong phòng, mép áo choàng nằm trên sàn và cái quần xuất hiện trên cầu thang. Howl khép hờ cửa phòng tắm lại và tay kéo từng chút của bộ áo vào trong. Sophie, Michael và người-chó đứng nhìn từng hàng từng hàng vải xanh xen bạc chạy trên sàn, trang trí bằng một cái nút bạc to cỡ cục đá tảng và những cọng chỉ là những sợi dây thừng khổng lồ. Có lẽ là gầnmột dặm vải như thế.

“Cháu không nghĩ là cháu đã làm đúng cái thần chú đó,” Michael nói khi phần vải khổng lồ cuối cùng biến mất sau cánh cửa phòng tắm.

“Và anh ta đã cho cậu biết thế!” Calcifer phán. “Làm ơn cho tớ thanh củi.”

Michael đưa một khúc gỗ cho Calcifer. Sophie cho người-chó ăn. Không ai dám làm gì cả ngòai việc ăn sáng bằng bánh mì phết mật ong cho đến khi Howl ra khỏi phòng tắm.

Hai giờ sau Howl mới bước ra ngoài, hơi nước thoang thoảng mùi hương cỏ thơm. Tòan người anh là màu đen. Quần áo đen, ủng đen, và tóc cũng màu đen, cùng một màu xanh đen như tóc cô Angorian. Trên tai lủng lẳng một hoa tai dài đen nhánh. Sophie không biết có phải mái tóc đen là để tưởng nhớ đến Penstemmon phu nhân hay không. Cô đồng ý với bà Pentstemmon là tóc đen hợp với Howl hơn. Nó làm nổi bật cặp mắt màu xanh thủy tinh của anh. Nhưng cái làm cô bận tâm nhiều hơn là bộ áo màu đen thật sự là bộ nào.

Howl tự phù phép một khăn tay đen và hỉ mũi vào đó. Cửa sổ lung lay. Anh nhặt mảnh bánh vụn trên ghế và ra dấu cho người-chó. Người-chó nhìn anh nghi ngờ. “Tao chỉ muốn mày đến đây để tao nhìn kỹ thôi,” Howl khò khè. Bệnh cúm của anh vẫn còn. “Đến đây, cưng.” Khi con chó miễn cưỡng bò đến chính giữa phòng thì Howl thêm, “Bà không tìm thấy bộ áo kia của tôi đâu, bà Rình Mò. Bà sẽ không bao giờ được động vào quần áo tôi nữa.”

Sophie ngừng nhón chân vào phòng tắm và nhìn Howl đi vòng quanh người-chó, ăn bánh phết mật ong, lại vừa hỉ mũi xì xì.

“Cậu nghĩ hóa trang này như thế nào?” anh nói. Anh quẳng cái khăn giấy đen thui về chỗ Calcifer và bắt đầu cúi mình xuống đất. Gần như khi anh làm vậy, anh biến mất. Khi tay chạm đất thì anh đã biến thành một chú chó lông xù màu đỏ, y như người-chó.

Người-chó hoàn tòan ngạc nhiên và bản năng tự vệ nổi lên. Lông nó xù lên, tai quặp xuống, và miệng nó gầm gừ. Howl bắt chước – hoặc anh cũng cảm thấy như vậy. Hai con chó giống hệt nhau đi vòng quanh, trừng mắt, gầm gừ, xù lông, sẵn sàng đánh nhau.

Sophie túm cái đuôi của con chó mà cô nghĩ là người-chó. Michael túm con chó mà cậu nghĩ là Howl. Howl nhanh chóng biến thành hành người. Sophie nhìn thấy một người áo đen cao lớn đứng trước mặt mình và buông tay ra khỏi áo Howl. Người-chó ngồi dưới chân Michael, nhìn thất vọng.

“Tốt,” Howl nói. “Nếu tôi có thể gạt con chó khác, tôi có thể gạt tất cả những người khác. Không ai tại đám tang sẽ để ý đến một con chó hoang nhấc chân chạm vào mộ bia.” Anh ra cửa và vặn nút xanh dương xuống dưới.

“Khoan đã,” Sophie cất tiếng. “Nếu cậu định đi dự đám tang trong lớp một con chó lông đỏ, sao lại còn mắc công bận đồ đen làm gì?”

Howl hất mặt lên vẻ trang nghiêm. “Để tôn trọng bà Pentstemmon,” anh trả lời, tay mở cửa. “Bà ấy là người chú ý đến các chi tiết.” Anh bước ra con đường của Porthaven.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 5:22 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 16
Có rất nhiều ma thuật

Vài giờ trôi qua. Người-chó lại đói bụng. Michael và Sophie quyết định ăn trưa. Sophie tay cầm chảo chiên tiến đến gần Calcifer.

“Sao hai người không thử ăn bánh mì với cheese chứ?” Calcifer cằn nhằn.

Tuy thế, hỏa yêu cũng cúi đầu xuống. Sophie vừa mới đặt chảo chiên trên đầu ngọn lửa xanh lục thì có tiếng Howl vang lên khàn khàn từ trên không.

“Cẩn thận đó, Calcifer! Mụ đã tìm được ta!”

Calcifer bật thẳng dậy. Cái chảo chiên rớt xuống chân Sophie.

“Bà phải chờ thôi!” Calcifer hét, người bừng cháy rực rỡ lên thẳng ống khói. Gần như trong tích tắc cậu biến hóa thành cả chục khuôn mặt xanh dương, như là đã bị ai đó lắc mạnh, và cháy với tiếng rền rĩ to lớn.

“Vậy là họ đang đánh nhau đó,” Michael thầm thì.

Sophie ngậm ngón tay bị bỏng vào miệng và tay kia nhặt mấy mảnh thịt sấy khô rơi trên váy, mắt không rời Calcifer. Y đang nghiêng ngả trong bếp lò. Những khuôn mặt của hỏa yêu chuyển từ màu xanh đậm đến xanh thanh thiên và rồi gần như trắng bạch. Một giây y còn có vô vàn đôi mắt màu cam, phút sau, hàng sao bàng bạc. Cô chưa bao giờ tưởng tượng được lại có những điều như thế.

Có gì đó quét trên đầu với tiếng ầm ầm và bùm bùm làm mọi vật trong phòng đều chấn động. Theo sau là một vật gì đó, với tiếng rú rít the thé. Calcifer chuyển màu xanh đen, và làn da Sophie gần như cháy xém từ hậu chấn của ma thuật.

Michael lết tới cửa sổ. “Bọn họ kéo tới đây rồi!”

Sophie bò tới cửa sổ luôn. Cơn bão ma thuật dường như ảnh hưởng đến của nửa thị trấn. Cái sọ người đánh răng cồm cộp đến nỗi nó phải nhảy lòng vòng. Các bịch giấy nhảy chồm chồm. Bột cháy xém. Một cuốn sách rớt khỏi kệ, nằm trên sàn, các trang giấy lật qua lật lại. Dòng suối nước nóng tràn ra khỏi phòng tắm ngập một góc phòng, ở góc khác, cây đàn guitar của Howl khảy lên vài tiếng lạc điệu. Và Calcifer càng quay mình nhanh hơn bao giờ.

Michael đặt cái đầu lâu lên bồn rửa mặt để không cho nó khua lộp cộp trên sàn khi cậu mở cửa sổ và nghểnh cổ ra ngoài. Bất cứ việc gì đang xảy ra cũng xảy ra ở phía xa khuất khỏi tầm nhìn. Những nhà bên cạnh cũng đều mở cửa chính và cửa sổ ra, chỉ trỏ vào cái gì đó ở đường chân trời. Sophie và Michael chạy đến phòng chứa đồ, túm lấy áo choàng nhung và khoác lên mình. Sophie lấy được cái biến người mặc thành người đàn ông râu đỏ. Bây giờ cô biết tại sao Calcifer đã cười khi cô mặc áo kia. Michael hóa thành một con ngựa. Nhưng bây giờ không phải lúc cười. Sophie bước ra đường, theo sau là người chó, y có vẻ rất điềm tĩnh. Michael chạy nước kiệu theo cô, móng ngựa vô hình khua lộp cộp, bỏ Calcifer biến màu xanh đến trắng đằng sau họ.

Con đường đầy những người đang ngưỡng cổ lên nhìn trên trời. Không ai chú ý đến mấy con ngựa đang chạy ra khỏi chuồng. Sophie và Michael cũng nhìn lên, họ thấy một vầng mây lớn bốc lên và xoắn tít trên các đỉnh ống khói. Nó có màu đen kịt và quay vòng vòng mãnh liệt. Những làn sáng trắng không giống ánh chớp lóe lên xuyên qua đó. Nhưng gần như cùng lúc với Michael và Sophie đến, cụm mây ma thuật đổi hình dạng hình nhiều con rắn đang đánh nhau. Rồi nó bị xẻ ra làm hai, âm thanh khủng khiếp như tiếng hai con mèo đang đánh lộn. Một nửa hú lên và chạy thật nhanh trên nóc, ra ngòai biển lớn, và nửa thứ nhì cũng hét lên đuổi theo.

Một vài người vội chạy vào trong nhà. Sophie và Michael gia nhập đoàn người can đảm hơn đi xuống con đường dốc đến bến cảng. Khi đến đó, mọi người ai cũng nghĩ chỗ đứng xem tốt nhất là cạnh bức tường bao quanh bến. Sophie lạch bạch tìm chỗ đứng gần đó, nhưng không cần thiết phải đi xa hơn cái chòi của người bảo vệ cảng. Hai đám mây đậu giữa lưng chừng trời, một số ở tuốt ngoài biển, bên kia bức tường cảng, chỉ có hai đám mây trên bầu trời xanh thẳm. Rất dễ để nhận biết chúng. Cũng rất dễ để nhìn thấy mảng tối của cơn bão đang vần vũ trên biển giữa đám mây, tạo nên những cơn sóng lớn. Có một con tàu xui xẻo ở giữa cơn bão đó. Những cột buồm bị chao đảo dữ dội. Mọi người có thể nhìn thấy vòi nước dập vào các cạnh thuyền. Thủy thủ liều mạng cố điều khiển cánh buồm, nhưng một lá đã bị xé rách tanh bành.

“Họ không tránh con thuyền đó được sao!” một người phẫn nộ cất tiếng.

Rồi gió, và sóng của cơn bão đánh vào tường bến cảng. Nước trắng xóa quất vào và những người can đảm bên bức tường chạy vội vào bên trong, nơi nhưng cánh buồm nặng nề đang neo. Giữa đám lộn xộn này là tiếng hét trong giọng cao vút như là tiếng hát. Sophie đưa mặt ra ngoài cơn gió ngoài túp lều, nơi tiếng hét phát ra, cô khám phá ma thuật dữ dội không chỉ quấy rầy sóng biển và những con tàu khốn khổ. Những thiếu nữ ướt át, mình mẩy trơn láng với mái tóc xanh nâu tung bay đang kéo mình lên bức tường bến cảng, các cô đang kêu thét lên, và giơ bàn tay dài, ướt đẫm ra cho nhiều thiếu nữ ướt át khác nữa đang bị sóng dập vùi. Tất cả bọn họ đều có đuôi cá thay vì chân.

“Quỷ thần ơi!” Sophie thốt. “Mỹ nhân ngư trong lời nguyền!” Vậy là chỉ còn hai điều bất khả thi sẽ thành sự thật.

Cô ngước nhìn lên hai đám mây. Howl đang quỳ gối trên đám mây bên trái, to hơn và gần hơn là cô tưởng. Anh vẫn còn trong bộ cánh đen. Không ngạc nhiên, anh đang ngước qua vai để xem những người cá đang hoảng hốt. Ánh mắt không biểu hiện là anh nhớ họ qua lời nguyền gì cả.

“Chú ý vào mụ phù thủy!” con ngựa bên cạnh Sophie hét lên.

Mụ phù thủy thình lình hiện ra, đứng trên ngọn mây bên phải, trong bộ trang phục màu lửa đỏ, mái tóc đỏ xõa dài, hai cánh tay giơ lên kêu gọi ma thuật. Khi Howl quay lại nhìn bà ta, cánh tay giáng xuống. Đám mây của Howl bùng cháy thành một dòng suối lửa màu hồng. Hơi nóng từ đó tuôn chảy khắp bến cản, và những tảng đá trên tường bốc hơi.

“Không sao!” con ngựa thở hổn hển.

Howl đứng trên con thuyền đang gần chìm trong cơn giông bão. Anh giờ là một hình ảnh bé nhỏ màu đen, đứng dựa vào cây cột buồm chính. Anh vẫy tay chọc quê để cho mụ phù thủy biết bà ta đã đánh hụt. Mụ phù thủy nhìn thấy ngay khoảnh khắc mà anh đưa tay lên. Cụm mây, phù thủy, và tất cả ngay lập tức biến thành một con chim đỏ khổng lồ, bay xuống tấn công con thuyền.

Con thuyền biến mất. Mỹ nhân ngư hét lên sợ hãi buồn rầu. Không còn gì ngoài những đợt sóng nơi con thuyền đứng. Nhưng con chim đỏ đang bay quá nhanh để mà ngừng lại. Nó bổ nhào xuống biển, tạo nên một cột sóng khổng lồ.

Mọi người đứng bờ đều cất tiếng hò reo. “Tớ biết ngay đó không phải là con tàu thật mà!” một người đứng sau lưng Sophie nói.

“Đúng đó, ắt hẳn là giả thôi,” con ngựa đáp vẻ thông thái. “Nó nhỏ quá chừng.”

Để chứng minh cho việc con thuyền thực ra gần hơn là ta thấy, những ngọn sóng từ chấn động bắn lên tường thành trước khi Michael ngừng nói. Ngọn đồi nước màu xanh cao hơn hai mươi feet nổi lên, đẩy người cá vào trong bến cảng, hất tung những con tàu đang nằm neo hai bên, và dộng ầm ầm từng cuộn vào căn chòi của người trông coi bến cảng. Một cánh tay từ hông con ngựa thò ra và đẩy Sophie trở ngược vào bên trong. Sophie giật mình và trợt chân vào trong vũng nước bùn. Người-chó đứng ngay bên cạnh, cả người ướt đẫm.

Họ vừa lùi sát vào tường, và những con thuyền trong bến cảng vừa mới dựng lại thẳng đứng, thì một ngọn nước cao như núi chạy thẳng vào tường cảng. Một con quái vật khổng lồ từ trong làn nước xổ tung ra. Thân mình nó dài, màu đen, nửa mèo, nửa hải sư, xộc thẳng vào trên bến. Một con quái vật khác cũng bung ra từ đợt sóng đang đập vào trong bến cảng, cũng mình dài thườn thượt, nhưng nhiều vảy hơn, và chạy đuổi theo con quái đầu tiên.

Mọi người nhận ra trận đấu chưa đến hồi kết và ướt lướt thướt chạy nhanh đến những căn chòi và nhà trong bến. Sophie vướng một sợi dây và vấp vào một bậc thềm. Cánh tay thò ra khỏi con ngựa và kéo cô đứng dậy khi hai con quái vật quần thảo nhau trên biển mặn. Một đợt sóng xoay vòng trên tường biển cả, và hai con quái vật nữa xuất hiện. Bọn chúng tương tự như hai con đầu tiên, trừ việc con nhiều vẩy gần con mèo hơn. Và đợt sóng kế mang thêm hai con nữa gần sát nhau nữa.

“Chuyện gì vậy?” Sophie the thé khi cặp quái thú thứ ba chạy ngang qua, bước chân làm rung chuyển những tảng đá.

“Ảo tượng,” giọng Michael phát ra từ con ngựa, “Một số. Bọn họ định gạt đối phương rượt theo con ảo.”

“Thế ai là ai?” Sophie hỏi.

“Ai mà biết,” ngựa đáp.

Một số người quan sát thấy mấy con quái thú thật đáng sợ. Nhiều người đã về nhà. Một số khác nhảy xuống các con tàu để đuổi quái vật khỏi bến. Sophie và Michael tham gia đám người xem điên cuồng đang chạy qua những con đường của Porthaven đuổi theo đám quái vật. Trước tiên họ đuổi theo dòng sông nước biển, rồi đến vết chân ướt khổng lồ, rồi cuối cùng là vết trầy xước màu trắng nơi móng vuốt của các con quái để lại trên các tảng đá lót đường. Những dấu hiệu đó dẫn mọi người đến phía sau thị trấn chỗ đầm lầy nơi Sophie và Michael đã đuổi bắt sao rơi.

Lúc ấy thì cả sáu quái thú chỉ còn là sáu chấm đen nhỏ nhảy nhót, biến mất vào khoảng không gian rộng lớn. Đám đông đứng rải rát trên bờ, chăm chú nhìn, vừa hi vọng sẽ thấy nữa, vừa sợ điều họ sẽ nhìn thấy. Sau một hồi lâu không ai còn thấy gì ngòai đầm lầy trống rỗng. Không có gì xảy ra hết. Vài người bắt đầu quay lưng bước đi, khi dĩ nhiên mọi ngưới la lên, “Xem kìa!” Một trái cầu lửa bay lên là đà ở đằng xa xa. Nó chắc chắn rất là khổng lồ. Tiếng chấn động của nó chỉ đến với người xem khi quả cầu lửa đã trở thành tòa tháp khói khổng lồ. Hàng người đều giật mình trước tiếng động như sấm sét của nó. Họ đứng theo dõi làn khói lan ra cho đến khi nó trở thành một phần của sương mù trên bãi lầy. Bọn họ tiếp tục đứng xem. Những chỉ có yên lặng. Làn gió thổi cỏ trên đầm, và chim lại bắt đầu cất tiếng hót.

“Tớ chắc là họ đã tự huỷ diệt nhau rồi,” người ta nói. Đám đông dần dần tách ra thành những cá nhân riêng rẽ trở lại công việc mà họ đã bỏ dở.

Sophie và Michael cứ đứng chờ mãi, cho đến khi rõ ràng là mọi việc thật sự đã hết. Họ chầm chậm cất bước trở về. Không ai muốn nói gì cả. Chỉ có người-chó dường như rất vui sướng. Nó bước đi cạnh họ vui vẻ đến nỗi Sophie chắn chắn là y nghĩ Howl đã tiêu thật rồi. Y vui vẻ yêu đời đến mức khi họ đến con đường về nhà của Howl, có một con mèo hoang đang đi qua đường, người-chó sủa lên một tiếng vui vẻ và chạy nhanh theo sau nó. Y rượt thật là nhanh như chớp đến thềm cửa lâu đài, nơi con mèo quay lại và liếc nhìn.

“Lượn đi!” nó meo. “Tôi chỉ cần thế này thôi!”

Con chó lùi lại một bước, xấu hổ.

Michael nhảy một bước đến cổng. “Howl!” cậu hét.

Con mèo thu nhỏ thành chú mèo con và trong rất đau khổ. “Và hai người trông tức cười ghê kìa!” nó nói. “Mở cửa đi. Tôi mệt rồi.”

Sophie mở cửa và con mèo lết vào nhà. Mèo lết đến gần lò sưởi, nơi Calcifer chỉ còn là một đốm lửa xanh nhỏ, và cố hết sức, đưa chân trước lên ghế. Nó ưỡn người chầm chậm thành Howl, đang cúi mình.

“Anh có giết bà phù thủy chưa?” Michael hăng hái hỏi, tháo áo choàng ra và trở lại thành người.

“Chưa,” Howl đáp. Anh uể oải ngả người vào ghế, dáng điệu mệt mỏi. “Mà tôi còn đang bị cảm nữa chứ!” anh rên. “Sophie, làm ơn tội nghiệp tôi, cởi cái chòm râu đỏ kinh khủng đó ra và lấy tôi chai rượu đỏ trong tủ - trừ khi bà đã uống hết rồi và chế vào đó thuốc đỏ.”

Sophie cởi áo choàng, đi tìm rượu đỏ và một cái ly. Howl uống ực một cái như thể nước lã. Rồi anh đổ một ly nữa, thay vì uống, anh rẫy nhẹ lên mình Calcifer. Hỏa yêu bừng lên và kêu tí tách, dường như hồi sinh được một chút. Howl rót ly thứ ba và ngả người uống từ tốn. “Đừng có đứng nhìn tôi!” anh nói. “Tôi không biết ai thắng. Mụ phù thủy rất khó đối phó. Bà ta dựa vào sức mạnh của hỏa yêu rất nhiều, và nó ở nơi khác. Nhưng chúng ta cũng đánh cho bà ta tan tác, eh, Calcifer?”

“Nó già rồi,” Calcifer thì thầm tí tách dưới đống củi. “Tớ mạnh hơn, nhưng nó biết nhiều việc tớ không nghĩ tới. Bà ta đã có nó hơn trăm năm. Và nó đánh tớ ngất ngư!” Y bùng lên một chút, rồi trèo lên đống củi để than vãn, “Cậu có thể cảnh cáo tui chứ!”

“Tớ nói rồi!” Howl đáp mệt mỏi. “Cậu biết mọi thứ tớ biết.”

Howl nằm đó hớp từng ngụm rượu đỏ trong khi Michael đi lấy bánh và xúc xích. Thức ăn làm bọn họ hồi sinh, có lẽ trừ người-chó, y dường như hiền hơn khi Howl trở lại. Calcifer bắt đầu cháy mạnh và trở nên màu xanh như thường.

“Thế này không được!” Howl nói. Anh đứng bật dậy. “Chuẩn bị đi, Michael. Mụ phù thủy đã biết ta ở Porthaven. Chúng ta sẽ không chỉ phải dời lâu đài và cổng Kingsbury nữa. Ta phải chuyển Calcifer đến căn nhà có tiệm bán nón đó.”

“Chuyển tớ?” Calcifer thét lên. Mặt chuyển sang màu đỏ ửng kinh hoàng.

“Đúng thế,” Howl nói. “Cậu có lựa chọn giữa Market Chipping hay là mụ phù thủy. Đừng có khó tính.”

“Mắc dịch!” Calcifer rên và thụt xuống lò.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 5:25 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 17
Tòa lâu đài biết đi chuyển nhà

Howl làm việc chăm chỉ cứ như anh vừa được nghỉ ngơi một tuần. Nếu Sophie đã không chính mắt nhìn thấy anh vừa đánh trận pháp thuật long trời lở đất chỉ một giờ trước, cô sẽ chẳng bao giờ tin điều đó. Anh và Michael chạy lăng xa lăng xăng, miệng hét lớn số đo cho người kia, và vẽ nhiều kí hiệu kỳ lạ ở những chỗ họ đã đặt dấu sắt lên. Họ dường như vẽ lên tất cả mọi ngõ ngách, kể cả sân sau. Cái chỗ chật hẹp của Sophie dưới cầu thang và cái phòng tắm hình dáng kì dị là hai nơi gây rắc rối cho họ. Sophie và người-chó bị xô qua đẩy lại, và rồi bị gạt ra ngoài hoàn toàn để cho Michael có thể bò người ra vẽ ngôi sao năm cánh trong vòng tròn trên sàn nhà.

Michael vừa mới làm xong và phủi bụi phấn khỏi đầu gối thì Howl chạy xộc vào, bộ áo đen lấm lem phủ một lớp bụi màu trắng. Sophie và người-chó lại bị xua ra chỗ khác để cho Howl lê người ra viết kí hiệu trong và ngoài ngôi sao và vòng tròn. Sophie và người-chó ngồi trên cầu thang. Người-chó đang rùng mình liên tục. Đây không phải là loại pháp thuật y thích.

Howl và Michael lại chạy ra ngoài sân. Howl quành ngay trở lại. “Sophie!” anh hét. “Mau! chúng ta sẽ bán gì trong cửa tiệm đó?”

“Hoa,” Sophie đáp, nghĩ đến dì Fairfax lần nữa. “Tốt lắm,” Howl nói, và chạy đến bên cửa với thùng sơn và cọ nhỏ. Anh nhúng cọ vào trong thùng sơn và cẩn thận tô nút vặn màu xanh thành màu vàng. Anh nhúng lần nữa. Lần này cây cọ trở thành tím. Anh tô nút màu xanh. Lần nhúng thứ ba là màu cam, và màu cam tô lên nút vặn màu đỏ. Howl không đụng đến cái nút màu đen. Anh quay đi, và đuôi tay áo vướng vào thùng sơn cùng với cây cọ. “Thiệt tình!” Howl nói, lôi nó ra. Phần đuôi áo đã biến thành màu cầu vồng. Howl lắc tay, và nó trở lại thành màu đen.

“Bộ áo đó thật ra là bộ nào thế?” Sophie hỏi.

“Tôi quên rồi. Đừng lộn xộn. Phần khó sắp đến đây,” Howl nói, vội vã đặt thùng sơn trên bàn làm việc. Anh nhặt một chai bột lên. “Michael! Cây xẻng bạc đâu?”

Michael từ sân chạy vào, tay cầm cái xẻng lớn lấp lánh. Tay cán bằng gỗ, nhưng cái xẻng có vẻ bằng bạc thật. “Mọi thứ ngoài kia đã sẵn sàng rồi!” cậu nói.

Howl đặt cái xẻng lên đầu gối để vẽ phấn kí hiệu lên cả tay cầm và lưỡi xẻng. Xong rồi anh rẩy một chút bột đỏ trong chai lên. Anh cẩn thận rưới chút xíu bột vào mỗi đỉnh của ngôi sao và đổ phần còn lại vào chính giữa. “Tránh xa ra, Michael,” anh phán. “Mọi người ai cũng tránh ra. Sẵn sàng chưa, Calcifer?”

Calcifer trồi lên từ những thanh củi thành một sợi lửa dài. “Sẵn sàng rồi,” hỏa yêu nói. “Cậu biết chuyện này có thể giết tớ chứ?”

“Nghĩ đến chuyện vui đi,” Howl đáp. “Nó có thể giết tớ. Vịn chặt nha. Một, hai, ba.” Anh chọc cây xẻng vào trong bếp, rất chắc chắn và chậm chạp, giữ nó thẳng và cân bằng. Trong một giây, anh lắc lắc nó nhè nhẹ luồn phía dưới Calcifer. Rồi, còn nhẹ nhàng và vững chắc hơn, anh nâng nó lên. Michael rõ ràng đang nín thở. “Được rồi!” Howl nói. Củi rơi xuống hai bên. Chúng không còn cháy nữa. Howl đứng dậy và quay lại, mang theo Calcifer trên cái xẻng.

Căn phòng đầy khói phủ. Người-chó rên rỉ và rùng mình. Howl ho. Anh khó khăn lắm mới giữ vững cái xẻng. Mắt Sophie đầy nước và cô khó thấy đường, nhưng, qua cặp mắt lờ mờ, Calcifer – như đã nói với cô – không có bàn chân, hay cả chân. Thân hình hỏa yêu là một khuôn mặt dài màu xanh dương trụ trên một cái trũng màu đen tỏa sáng nhè nhẹ. Cái trũng đen có chỗ hổng phía trước, thoạt nhìn cứ tưởng là Calcifer đang quỳ trên hai cái chân nhỏ xíu gập lại. Nhưng Sophie biết là không phải vì khi cái trũng bị lắc lư nhè nhẹ, nó có hình dạng tròn tròn phía dưới. Calcifer chắc chắn thấy rất bất an. Cặp mắt màu cam trợn tròn sợ hãi, và hai cánh tay lửa nhỏ cứ trườn ra hai bên, muốn nắm lấy cạnh của cái xẻng.

“Không còn lâu đâu!” Howl sặc, cố an ủi. Nhưng anh phải ngậm miệng chặt lại và đứng yên một chỗ cố gắng không ho. Cái xẻng lắc lư một hồi và Calcifer trông rất kinh sợ. Howl vượt qua được. Anh bước từng bước dài, vững chãi vào trong vòng tròn phấn, và vào trung tâm của ngôi sao năm cánh. Tay giữ cho cái xẻng thăn bằng, anh chầm chậm quay vòng tròn, một vòng, và Calcifer cũng quay theo, mặt xanh lè, hoảng hốt.

Dường như là cả căn phòng cũng quay theo họ. Người-chó nép lại gần Sophie. Michael lảo đảo. Sophie thấy như là một mảnh đất của họ đã trở nên lỏng ra, và đang lảo đảo, lắc lư vòng vòng một vòng tròn. Cô không trách Calcifer sợ đến như vậy. Mọi thứ vẫn còn lắc lư khi Howl bước từng bước dài, cẩn trọng ra khỏi ngôi sao và khỏi vòng tròn. Anh quì xuống cạnh lò sười, hết sức trân trọng, đẩy Calcifer vào trong bếp và đặt củi xung quanh. Calcifer bùng cháy ngọn lửa xanh lè. Howl dựa vào cái xẻng và ho.

Căn phòng giao động dữ dội rồi đứng yên. Trong vài giây, khi luồng khói vẫn còn lan khắp nơi, Sophie ngạc nhiên thấy đường nét quen thuộc của ngôi nhà nơi cô sinh ra. Cô biết thế, mặc dù sàn nhà trống trơn và không có hình ảnh gì trên tường. Tòa lâu đài dường như đã chen vào trong căn biệt thự, đẩy chỗ này, kéo chỗ kia, mang trần nhà xuống để hợp với trần lâu đài, cho đến khi cả hai hòa vào nhau và trở thành tòa lâu đài lần nữa, ngoại trừ việc nó trở nên cao hơn và vuông hơn.

“Được chưa hả, Calcifer?” Howl ho khụ khụ.

“Tớ nghĩ được rồi,” Calcifer đáp, trèo lên ống khói. Hỏa yêu không có vẻ gì tệ hơn vì chuyến đi trên cái xẻng cả. “Cậu kiểm tra lại thì biết.”

Howl dựa vào cái xẻng và đứng lên mở cánh cửa với nút màu vàng chĩa xuống. Ngoài kia là con đường của Market Chipping mà Sophie đã quen thuộc cả đời. Những khuôn mặt thân thiết đang đi trong buổi chiều vàng, bách bộ trước buổi ăn tối, điều mà mọi người thích làm vào mùa hè. Howl gật đầu với Calcifer, đóng cửa, vặn nút cam xuống, và mở lần nữa.

Một con đường nhỏ hẹp từ cánh cửa chạy thoai thoải xuống giữa hàng cây xanh lá, đẹp như một bức tranh đang bừng sáng hai bên đường trong ánh hoàng hôn. Ngoài xa là một cánh cổng bằng đá với những tượng đài xung quanh. “Đây là đâu thế?” Howl hỏi.

“Thì một biệt thự hoang cuối thung lũng,” Calcifer nói tự ái. “Đó là căn nhà cậu bảo tớ tìm đó. Nó đẹp lắm mà.”

“Tớ chắc thế,” Howl đáp. “Chỉ hi vọng chủ nhân nó không phản đối thôi.” Anh đóng cửa lại và vặn nút tím xuống. “Bây giờ đến phiên lâu đài biết đi,” anh nói khi vừa mở cửa lần nữa.

Ngoài trời đã chạng vạng tối. Một cơn gió ấm áp mang nhiều hương vị khác nhau thổi vào. Sophie nhìn thấy đợt sóng lá khô đen tràn qua, cuốn theo những bông hoa màu tím xen lẫn. Nó quay vòng chầm chậm ra xa, thế chỗ đó là những đóa hoa loa kèn màu trắng và một tia sáng mờ ảo soi trên cái hồ nước xa xa. Mùi hương tuyệt trần đến nỗi Sophie bất giác bước ra căn phòng.

“Ồ không, cái mũi dài cũa bà tránh bên ngoài cho đến sáng mai,” Howl nói, và đóng sập cửa lại. “Chỗ này chỉ ngay bên giới vùng Hoang Phế. Tốt lắm, Calcifer. Hoàn hảo. Một căn nhà xinh và hàng đống hoa, như bà muốn.” Anh quẳng cây xẻng xuống và đi ngủ. Anh hẳn rất mệt mỏi. Trên lầu tuyệt không có tiếng rên rỉ, la lối và gần như không có tiếng ho.

Sophie và Michael cũng mệt đừ người. Michael ngã vào trong ghế và ngồi vuốt người-chó, mắt nhìn đâu đâu. Sophie vắt vẻo trên ghế dài, cảm thấy người chộn rộn kỳ lạ. Bọn họ đã chuyển nhà. Nhưng cô vẫn cảm thấy như cũ, nhưng cũng khác hơn, thật là rắc rối. Vùng Hoang Phế? Có phải là câu thần chú đã kéo Howl đến mụ phù thủy không? Hay là Howl cứ luồn lách nhiều đến nỗi anh đã lộn trở lại ngay sau lưng mình và trở thành cái mà người ta gọi là thành thật?

Sophie nhìn Michael để xem cậu ta nghĩ gì. Michael đã ngon giấc, và người-chó cũng thế. Sophie liếc qua Calcifer, hỏa yêu cũng ngái ngủ tí tách giữa đám củi, cặp mắt màu cam lim dim. Cô nghĩ đến việc Calcifer run rẩy trắng bệch, với cặp mắt trợn tròn, và rồi Calcifer nhìn ngại ngần khi lắc lư trên cái xẻng. Hỏa yêu gợi cô nhớ đến điều gì. Hình dạng của y.

“Calcifer,” cô nói, “cậu đã từng là một ngôi sao sa hả?”

Calcifer mở một con mắt màu cam nhìn cô. “Tất nhiên,” cậu ta nói. “Tôi có thể nói về điều đó nếu bà biết. Hợp đồng cho phép tôi như thế.”

“Và Howl đã bắt được câu?” Sophie tiếp.

“Năm năm trước,” Calcifer đáp, “ở bãi đầm lầy ngoài Porthaven, chỉ khi vừa trở thành Thuật sĩ Jenkin thôi. Y rượt theo tôi bằng đôi hài bảy dặm. Tôi đã rất sợ hắn. Nhưng mà lúc đó tôi cũng đã hoảng sợ lắm rồi, bởi vì khi tôi rơi tôi biết mình sẽ chết. Tôi đổi tất cả để khỏi phải chết. Khi Howl ra đề nghị giữ mạng sống của tớ như cách con người sống, tớ đã ra một hợp đồng ngay lập tức. Không ai trong chúng tớ biết mình đang bước vào cái gì. Tớ thì thấy may mắn, còn Howl chỉ đề nghị bởi vì thấy tội nghiệp cho tớ.”

“Cũng như Michael,” Sophie đáp.

“Gì thế?” Michael đáp, thức giấc. “Sophie, cháu ước gì mình không ở ngay biên giới của vùng Hoang Phế. Cháu không biết bọn ta sẽ phải ở đây. Cháu không thấy an toàn.”

“Không ai an toàn trong nhà một pháp sư,” Calcifer đáp đồng cảm.

Buổi sáng hôm sau, cánh cửa được vặn cho nút màu xanh hạ xuống, Sophie bực bội cả mình, vì nó không có mở đến đâu. Cô muốn nhìn thấy hoa, mặc cho có mụ phù thủy hay không. Nên cô trút giận bằng cách lấy xô nước và chùi phấn khỏi sàn nhà.

Howl bước vào khi cô đang làm việc. “Làm, làm, làm,” anh nói, bước qua Sophie khi cô đang chùi sàn. Anh trông có vẻ kì lạ. Bộ quần áo vẫn đen tuyền, nhưng mái tóc đã chuyển màu sáng. Màu tóc trông trắng tinh đối lập hẳn với nền đen. Sophie liếc nhìn anh và nghĩ đến lời nguyền. Howl có lẽ cũng đang nghĩ đến nó. Anh cầm cái đầu lâu lên khỏi bồn nước và giữ trong tay, ve đau thương. “Alas, Yorick đáng thương !” anh nói. “Cô ta nghe nói đến mỹ nhân ngư, nên suy đoán là phải có chuyện gì xấu xa ở xứ sở Đan Mạch. Tôi vừa bị cơn bệnh cảm dài muôn kiếp, nhưng may mắn thay tôi rất không thành thật. Tôi sẽ bám vào đó.” Anh ho khọt khẹt ra vẻ thương tâm. Nhưng cơn bệnh của anh đã khá hơn nhiều tiếng ho và không giống cái gì hết.

Sophie liếc nhìn người-chó, đang ngồi đó nhìn cô, trông có vẻ ngoan ngoãn như Howl. “Ngươi nên trở về với Lettie,” cô thì thầm. “Chuyện gì thế?” cô nói với Howl. “Tiểu thơ Angorian không ổn sao?”

“Khủng khiếp lắm,” Howl đáp. “Lily Angorian có trái tim bằng đá.” Anh đặt cái đầu lâu trở lại bồn nước và kêu Michael. “Thức ăn! Làm việc!” Anh la.

Sau bữa sáng họ lôi các thứ trong phòng kho ra. Rồi Michael và Howl đục một lỗ lớn trên tường. Bụi phun mù mịt ra khỏi nhà kho và nhiều tiếng động thùm thụp vang lên. Cuối cùng cả hai la lên kêu Sophie. Sophie tới liền, hai tay xách cái chổi chà. Cô nhìn thấy có cánh cổng vòm tròn chỗ bức tường, dẫn tới cầu thang nối liền cửa tiệm và nhà. Howl mới cô đến và nhìn cửa hàng. Nơi đó trống rỗng và hoang tàn. Sàn nhà giờ lót gạch trắng đen vuông, như hành lang của nhà Pentstemmon phu nhân, và những kệ xưa kia trưng bày nón giờ có một bình hoa hồng nhựa xen lẫn với bó hoa anh thảo. Sophie nhận ra cô phải tỏ vẻ ngưỡng mộ, nên cô không thèm nói gì cả.

“Tôi đã tìm thấy hoa trong cái nhà kho đằng sau,” Howl nói. “Ra ngoài đây xem đi.”

Anh mở cánh cửa ra đường, và cái chuông cửa rung lên tiếng kêu thân thuộc Sophie đã từng nghe suốt cả cuộc đời. Sophie đi lạch bạch ra con đường vắng vẻ buổi sáng. Cánh cửa tiệm đằng trước đã có màu sơn mới màu xanh lục và vàng. Dòng chữ cong cong trên cửa sổ viết: H. JENKINS HOA TƯƠI HÀNG NGÀY.

“Đổi ý về tên thường rồi há?” Sophie nói.

“Để hóa trang thôi,” Howl đáp. “Tôi thích tên Pendragon hơn.”

“Còn hoa tươi từ đâu đến?” Sophie hỏi. “Anh không thể nói thế và rồi lấy hoa giả cắm nón ra bán.”

“Cứ chờ xem,” Howl nói, chân dẫn đường vào trong cửa tiệm.

Họ buớc vào trong khu vườn sau mà Sophie đã quen thuộc biết bao. Nó chỉ còn khoảng một nửa, bởi vì sân của Howl từ tòa lâu đài biết đi đã chiếm một phần của nó. Sophie nhìn tòa nhà cũ của mình nằm phía sau bức tường gạch của sân Howl. Nó trong lạ lùng bởi vì cửa sổ mới thuộc về phòng ngủ của Howl, và Sophie cảm thấy kì cục hơn bởi vì cô nhận ra cửa sổ phòng Howl không nhìn thấy những cảnh tượng cô đang thấy bây giờ. Cô có thể thấy cánh cửa sổ căn phòng cũ của mình, chỉ phía trên cửa tiệm. Điều này càng làm cô thấy kì quặc, bởi vì không có cách nào để leo lên trên ấy nữa.

Khi Sophie lạch bach sau Howl vào trong nhà lần nữa và leo cầu thang trở lại nhà kho, cô nhận ra mình đang rất thô lỗ. Gặp lại căn nhà cũ thế này làm cô có nhiều cảm xúc lẫn lộn. “Tôi nghĩ nó rất được,” cô nói.

“Vậy sao?” Howl lạnh lùng. Anh đã bị tổn thương. Người gì mà thích được ngợi khen quá, Sophie thở dài, Howl bước vào lâu đài và vặn nút màu tím xuống. Mặt khác, cô không nghĩ là mình đã từng khen Howl, cũng như là Calcifer, và cô tự hỏi sao mình phải bắt đầu làm thế chứ.

Cánh cửa mở toang ra. Những bụi hoa khổng lồ lướt qua chầm chạm và ngừng lại để Sophie có thể leo xuống đứng giữa chúng. Giữa những bụi cây, con đường đất phủ cỏ xanh biếc dẫn đi khắp nơi. Howl và Sophie đi đến đường gần nhất, và tòa lâu đài đi theo họ, đẩy những cánh hoa tung tóe trên từng bước. Tòa lâu đài, cao và đen, và xấu xí như thế, thổi từng cụm khói nhỏ từ ống khói này đến ống khói khác, không hề lạc lõng nơi đây. Ma thuật ngự trị ở nơi này. Sophie biết rõ. Và tòa lâu đài có vẻ hợp cảnh thế nào.

Không khí nóng bức, ẩm thấp, và nồng nàn mùi hoa, hàng ngàn loại mùi. Sophie gần buột miệng nói là hương hoa làm cô nhớ mùi phòng tắm sau khi Howl ở trong ra, nhưng cô cắn môi ngăn mình lại. Chỗ này thật huyền diệu. Giữa các bụi cây và đóa hoa tím, đỏ, trắng của chúng, bãi cỏ ướt sương cũng đầy hoa nhỏ: màu hồng với chỉ ba cánh hoa, những cánh hoa bướm khổng lồ, hoa giáp trúc đào dại, cỏ vũ biển đủ màu, bách hợp màu cam, bách hợp cao màu trắng, diên vĩ, và vô số loại hoa khác. Có những loại dây leo trổ hoa to có thể cài nón, ngô đồng, anh túc, và nhưng cây có hình dáng kỳ lạ và màu lá còn kỳ lạ hơn. Mặc dù nó không giống giấc mơ có một khu vườn như vườn dì Fairfax, Sophie quên bẵng đi sự cau có của mình và trở nên vui vẻ.

“Thấy chưa,” Howl nói. Anh giơ một cánh tay ra và ống tay áo đen khuấy động hàng trăm con bướm xanh đang đậu trên bụi cây hoa hồng vàng. “Chúng ta có thể cắt hàng đống hoa mỗi buổi sáng và bán trong Market Chipping với sương mai còn đọng trên chúng.”

Cuối con đường, thảm cỏ trở nên lầy lội. Hoa lan dại mọc um tùm trên bụi cây. Howl và Sophie ngẫu nhiên đến một hồ nước nóng mọc đầy hoa súng. Tòa lâu đài quẹo đi tránh hồ nước và đi hướng đối lập đến những cánh hoa khác.

“Nếu bà đến đây một mình, hãy đem cây gậy để dò đường,” Howl nói. “Nơi này có nhiều hồ nước nóng và đầm lầy. Và đừng có đi xa hơn hướng đó.”

Anh chỉ đông nam, nơi mặt trời là một cái dĩa màu trắng trong không gian đầy sương. “Đó là vùng Hoang Phế - rất nóng bức, hoang tàn, và đầy phù thủy ở trỏng.”

“Ai trồng những cây hoa này, ngay biên giới của vùng Hoang Phế?” Sophie nói.

“Pháp sư Suliman bắt đầu khoảng năm trước,” Howl đáp, quay bước trở lại lâu đài. “Tôi nghĩ anh ta định làm vùng Hoang Phế trổ đầy hoa và đuổi mụ phù thủy bằng cách đó. Anh ấy mang hồ nước nóng đến và trồng mọi thứ. Kế hoạch làm rất tốt cho đến khi mụ phù thủy bắt được.”

“Bà Pentstemmon nhắc đến một tên khác,” Sophie nói. “Cậu ta đến cùng chỗ với cậu, phải không?”

“Dường như thế,” Howl đáp. “Tôi chưa bao giờ gặp anh ta cả. Tôi đến nơi này và cố làm tiếp vài tháng sau. Đó là một ý tưởng tốt. Khi ấy tôi gặp mụ phù thủy. Bà ta phản đối ý này.”

“Tại sao?” Sophie hỏi.

Lâu đài dừng lại đợi họ. “Bà ta tự cho mình là một đóa hoa,” Howl nói, tay mở cửa. “Một đóa lan cô độc, nở trong vùng Hoang Phế. Sến đặc, thiệt đó.”

Sophie lưu luyến nhìn đồng cỏ lần cuối trước khi bước theo Howl vào trong. Có hoa hồng, hàng ngàn đóa. “Mụ phù thủy không biết là đang anh ở đây sao?”

“Tôi cố làm thứ gì bả không ngờ tới,” Howl đáp.

“Vậy thì cậu có thử tìm Hoàng tử Justin không?” Sophie hỏi. Nhưng Howl tránh việc trả lời bằng cách chạy xộc vào phòng chứa đồ, miệng hét lớn gọi tên Michael.

---

* Alas! Poor Yorick! : câu nói nổi tiếng khi Hamlet gặp đầu lâu của anh hề thân thiết trong vở kịch Hamlet của Shakespeare.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 5:26 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 18
Bù nhìn và tiểu thư Angorian tái xuất hiện


Họ khai trương tiệm hoa vào ngày hôm sau. Như Howl đã nói, mọi việc không thể nào đơn giản hơn. Buổi sáng sớm, họ chỉ cần mở cánh cửa với nút vặn màu tím chĩa xuống, và ra ngoài đồng cỏ xanh để hái hoa. Dần dần việc ấy trở thành lệ. Sophie lấy cây gậy, kéo, chân vừa bước nhảy loi choi, miệng vừa nói chuyện với cây gậy, và dùng nó để dò tìm các vũng đất lầy và kéo những đóa hồng trên cao xuống. Michael đem theo một sáng chế mà cậu rất tự hào. Một cái thùng thiếc đựng nước, bay lơ lửng trong không khí theo chân Michael bất cứ khi nào cậu đi giữa bụi hoa. Người-chó cũng theo nữa. Y rất vui vẻ chạy giữa những con đường đất sũng ướt, đuổi bắt bướm, và gắng bắt cho được những con chim nhỏ xíu, cánh sặc sỡ đang đậu trên hoa. Trong khi y chạy nhảy khắp nơi, Sophie cắt đầy một vòng tay những cánh hoa diên vĩ dài, loa kèn, hoặc là những cây hoa màu cam có cánh chĩa ra tua tủa, hay cánh hoa dâm bụt xanh dương, và cái thùng thiếc của Michael chất đầy hoa lan, hồng, sao nhái, những bông có màu đỏ rực, hay bất cứ loại nào mà cậu thích. Tất cả đều thích khoảng thời gian này.

Rồi, trước khi ánh nắng trở nên gay gắt, họ mang hoa về tiệm và trưng bày trong mấy chai lọ, xô, bình sặc sỡ màu sắc mà Howl đã đào lên trong sân. Hai cái bình thật ra là đôi hia bảy dặm. Không gì, Sophie nghĩ khi cô đặt một bó hoa bách hợp vào, có thể cho thấy rõ hơn là Howl đã quên hẳn Lettie rồi. Anh không quan tâm nếu Sophie có dùng chúng hay không.

Howl gần như lúc nào cũng vắng mặt khi họ hái hoa. Và nút vặn cửa lúc nào cũng có màu đen chĩa xuống. Anh thường trở về muộn vào buổi sáng, vẻ mơ màng, trong bộ áo màu đen. Anh không bao giờ nói cho Sophie nghe bộ màu đen là bộ nào. “Tôi vẫn còn để tang bà Pentstemmon,” là tất cả mà anh tiết lộ. Và nếu Sophie hay Michael hỏi tại sao Howl lúc nào cũng biến mất vào khoảng đó, Howl lại nói vẻ bi thương, “Nếu muốn trò chuyện với một cô giáo, thì phải tóm được cô trước khi giờ học bắt đầu.” Rồi anh chui vào phòng tắm và ở lì bên trong đến hai giờ tiếp sau đó.

Trong khi Sophie và Michael mặc đồ thật đẹp và ra mở cửa tiệm. Howl nhất quyết bắt họ phải mặc trang phục thật đẹp. Anh nói như thế sẽ thu hút nhiều khách hơn. Sophie bảo rằng chỉ cần bận tạp dề. Và chỉ sau vài ngày đầu, khi mọi người ở Market Chipping chỉ nhìn vào cửa kính mà ngập ngừng không vào tiệm, cửa tiệm đã trở nên rất nổi tiếng. Tiếng đồn lan xa là tiệm Jenkin có hoa đẹp chưa từng thấy ở đâu hết. Những người Sophie đã biết cả đời đến và mua hàng đống hoa. Không ai nhận ra cô, và điều đó làm cô thấy rất kỳ lạ. Họ đều nghĩ cô là mẹ của Howl. Nhưng Sophie đã chán chê việc làm mẹ Howl rồi. “Tôi là cô của cậu ta,” cô nói với bà Cesari. Cô được biết đến dưới tên Bà Cô Jenkins.

Bằng vào thời gian Howl đến tiệm, trong cái tạp dề đen cho hợp với bộ quần áo, anh thường thấy nó đã bận rộn. Anh vẫn làm nó bận rộn hơn. Đây là lúc Sophie bắt đầu chắc chắn rằng bộ áo đen thật ra là bộ xám đỏ bị phù phép. Bất cứ người phụ nữ nào Howl phục vụ đều chắc chắn phải đi ra với ít nhất hai lần lượng hoa mà cô muốn mua. Hầu hết thời gian Howl quyến dụ họ mua gấp mười lần. Không lâu sau, Sophie để ý thấy các cô gái chỉ nhìn vô và quyết định không vào cửa tiệm khi thấy Howl có mặt ở đó. Cô không trách họ. Nếu bạn chỉ cần một hoa hồng cài áo, không ai muốn bị ép phải mua ba chục đóa hoa lan nữa cả. Vì thế, cô không phản đối khi Howl ở lì trong nhà kho ngoài sân nhiều giờ.

“Trước khi bà hỏi, tôi đang lập lớp phòng thủ chống lại bà phù thủy,” anh nói. “Sau khi xong rồi, bà ta sẽ chẳng có cách nào vào đây được.”

Thỉnh thoảng có những bông hoa còn sót lại không ai mua. Sophie không thích nhìn thấy chúng héo tàn qua đêm. Cô phát hiện mình có thể giữ chúng tươi lâu hơn nếu nói chuyện với chúng. Sau đó, cô nói chuyện với hoa rất nhiều. Cô bảo Michael làm cho cô một cái thần chú nuôi dưỡng hoa, và cô làm thí nghiệm với mấy cái chậu trong bồn nước, và trong thùng thiếc ở cái xó xỉnh nơi cô thường cắt nón. Cô nhận ra mình có thể kéo dài tuổi thọ của hoa qua nhiều ngày. Dĩ nhiên cô càng thí nghiệm nhiều thêm nữa. Cô lấy một đống bồ hóng ra ngoài sân và trồng cây cỏ vào đó, miệng chóp chép bận rộn. Cô trồng được một hoa hồng màu xanh nước biển, và điều đó làm cô vui sướng. Nụ hoa đen như than, và đóa hoa nở ra xanh biêng biếc và ngày càng xanh hơn cho đến khi gần bằng màu xanh của Calcifer. Sophie vui đến nỗi cô lấy các rễ cây từ trong tất cả cái bao treo trên xà nhà và thí nghiệm chúng. Cô tự bảo mình chưa bao giờ hạnh phúc thế này trong đời.

Điều này không đúng. Có cái gì đó không ổn, và Sophie không thể hiểu được là gì. Đôi khi cô nghĩ đó là cách mà không ai ở Market Chipping nhận ra cô. Cô không dám đi thăm Martha, e rằng Martha sẽ không nhận ra mình. Cô không dám đổ hoa ra khỏi đôi hia bảy dặm và đi thăm Lettie với cùng lý do đó. Cô chỉ không thể chịu nổi ý nghĩ hai người em sẽ nhìn thấy cô trong bộ dạng một bà già.

Michael lúc nào cũng cầm một bó hoa tươi đi thăm Martha. Đôi khi Sophie nghĩ đó là lý do mà cô buồn bực. Michael lúc nào cũng vui vẻ hạnh phúc, và cô thường bị bỏ rơi một mình trong tiệm. Nhưng dường như cũng không phải thế. Sophie thích được bán hoa một mình.

Đôi khi vấn đề dường như nằm ở Calcifer. Calcifer đang rất buồn chán. Cậu ta không có việc gì làm trừ việc giữ tòa lâu đài lướt đi trên bãi cỏ, tránh bước vào những cái hồ, suối, và bảo đảm họ đến một nơi mới, có nhiều hoa mới, mỗi buổi sáng. Khuôn mặt xanh của cậu ta lúc nào cũng hăng hái tựa ra ngoài lò sưởi mỗi khi Sophie và Michael bước vào với nhiều hoa. “Tôi muốn nhìn thấy cảnh bên ngoài,” cậu ta nói. Sophie mang những cánh lá khô thơm tho đến cho cậu đốt, làm tòa lâu đài thơm như là phòng tắm, nhưng Calcifer nói cái cậu thật sự cần là người trò chuyện. Bọn họ lúc nào cũng trông tiệm và để cậu một mình.

Vì thế Sophie bắt Michael trông tiệm một mình ít nhất một giờ buổi sáng để cô ngồi tiếp chuyện với Calcifer. Cô sáng chế ra các trò chơi đánh đố để giữ Calcifer bận rộn khi cô có việc. Nhưng Calcifer vẫn chưa hài lòng. “Chừng nào bà mới hủy hợp đồng của tôi với Howl?” hỏa yêu càng ngày càng hỏi câu này nhiều hơn.

Và Sophie cắt ngang lời Calcifer, “Tôi đang làm mà,” cô nói. “Không còn lâu nữa đâu.” Điều này không đúng lắm. Sophie đã lâu không nghĩ đến việc này trừ khi bị bắt buộc. Cô ráp lại mọi việc mà bà Pentstemmon đã bảo với mọi chuyện mà Howl và Calcifer kể, và phát hiện ra cô có những ý tưởng khủng khiếp và ghê gớm về hợp đồng. Cô chắc chắn hủy bỏ nó sẽ là kết thúc của cả Howl và Calcifer. Howl có thể xứng đáng thế, nhưng Calcifer thì không. Và vì Howl dường như đang cố gắng hết sức để luồn lách khỏi lời nguyền của bà phù thủy, Sophie không muốn làm gì hết trừ khi có thể giúp được.

Thỉnh thoảng Sophie nghĩ đơn giản là người-chó đã làm cô khó chịu. Y là một con vật hiền lành ngoan ngoãn. Những lần duy nhất y có vẻ thích thú chơi đùa là khi y chạy giữa con đường xanh giữa bụi cây mỗi buổi sáng. Rồi cả ngày cậu ta chỉ ủ rủ lết sau Sophie và thở dài. Vì Sophie không thể làm gì cho y hết, cô thấy vui hơn khi thời tiết gần ngày Hạ Chí càng trở nên nóng hơn và người-chó thích ra ngoài sân nằm dưới bóng cây mát, lưỡi le ra thở hồng hộc.

Trong khi đó những cái gốc rễ khô Sophie đã trồng giờ trở nên thú vị. Củ hành trở thành một cây cọ và đang đâm ra những củ nhỏ có mùi giống mùi hành. Một rễ cây khác đang hóa thành một cây hoa hướng dương màu hồng. Chỉ có một cái rất chậm lớn. Cuối cùng nó cũng trổ ra hai cánh lá xanh tròn, Sophie càng nóng lòng muốn xem nó trở thành cây gì. Ngày kế tiếp trông nó có thể là cây hoa lan. Lá nhọn điểm màu hoa cà và một nhánh dài trổ ra ở chính giữa với cái nụ thật là lớn ở trên. Ngày hôm sau, Sophie bỏ các cành hoa tươi trong thùng thiếc và chạy thật nhanh đến hốc tường để xem cây hoa thế nào.

Nụ hoa đã nở thành cánh hoa màu hồng, nó trông như đóa hoa lan vừa bị xé tơi tả. Cánh dẹp, và túm vào cành bên dưới chỉ dưới cuống tròn. Có bốn cánh hoa bung ra từ phần giữa màu hồng, hai cánh chĩa xuống dưới và hai cánh chĩa lên trên.Trong khi Sophie ngó chằm chằm, mùi hoa xuân mạnh mẽ đến gần báo cho cô biết là Howl đã về và đang đứng cạnh cô.

“Đây là cái gì?” anh nói. “Nếu bà muốn một màu tím thật tím hay là màu cực đỏ, bà đã làm sai rồi, Bà Khoa Học Điên ạ.”

“Em thấy nó giống hoa bí hơn,” Michael nói, đến gần xem.

Đúng như thế. Howl ngó Michael cảnh giác và cầm lấy hoa trong chậu lên. Anh đổ hoa ra khỏi chậu trong lòng bàn tay, và cẩn thận tách ra nhánh cây trắng dài, đất, bồ hóng, và phần còn lại của thần chú phân bón, cho đến khi anh khám phá ra cái rễ màu xám, chĩa đôi mà Sophie đã trồng. “Tôi đoán trúng mà,” anh phán. “Rễ ớt mã. Sophie lại ra tay nữa. Bà đúng là mát tay, phải không, Sophie?” Anh đặt cây trở lại, đưa cho Sophie và đi khỏi, mặt hơi tái.

Vậy là gần hết lời chú đã thành sự thật rồi, Sophie nghĩ khi vừa đặt hoa tươi ở cánh cửa kiếng của tiệm. Rễ cây ớt mã đã sinh hoa kết trái. Vậy là chỉ còn một điều cuối cùng: ngọn gió mang một trái tim thành thật. Nếu đó có nghĩa là Howl phải thành thật, Sophie nghĩ, vậy là có cơ hội lời nguyền sẽ chẳng bao giờ thành sự thật. Cô tự bảo mình Howl đáng đời lắm, vì dám đi theo đuổi cô Angorian mỗi buổi sáng trong bộ quần áo bị phù phép, nhưng cô vẫn thấy hối hận. Cô đặt một đống hoa huệ vào trong đôi hài bảy dặm. Cô phải trèo lên cửa sổ để trưng bày nó, và cô nghe tiếng clump, clump, clump quen thuộc ngoài đường. Đó không phải là tiếng của con ngựa. Mà là tiếng của cây đập lên đá lót đường.

Tim Sophie cảm giác thình thịch kỳ lạ ngay trước khi cô dám nhìn ra ngoài cửa sổ. Ở đó, cô biết ngay, là một con bù nhìn, nhảy chầm chậm và chắc chắn xuống giữa đường. Những mảnh giẻ rách bay phất phới trên cánh tay giang ra càng ít hơn và đen hơn, và khuôn mặt củ cải quắt lại kiên định, như là nó đã nhảy từ khi Howl đuổi nó đi, cho đến khi cuối cùng nó đã tìm được đường về.

Sophie không phải là người duy nhất sợ hãi. Vài người dậy sớm đang chạy thật nhanh khỏi con bù nhìn. Nhưng bù nhìn chẳng chú ý gì đến họ và tiếp tục nhảy.

Sophie giấu mặt đi. “Chúng ta không có ở đây!” cô nói thầm thì dứt khoát. “Ngươi không biết ta ở đây! Ngươi không tìm thấy chúng ta. Nhảy đi chỗ khác nhanh!”

Tiếng clump, clump của thanh gỗ chậm dần khi con bù nhìn tới gần tiệm. Sophie muốn hét lên kêu Howl, nhưng tất cả những gì cô có thể làm là lập đi lập lại, “Chúng ta không có ở đây. Đi mau đi!”

Và tiếng nhảy cồm cộp nhanh lên, như cô đã nói với nó, và con bù nhìn nhảy qua cửa tiệm và tiếp tục lên đường qua Market Chipping. Sophie nghĩ là mình sẽ ngất đi mất. Nhưng cô dường như chỉ nín thở. Cô hít một hơi thật sâu và thấy mình còn run rẩy. Nếu con bù nhìn trở lại, cô có thể đuổi nó lần nữa.

Howl đã đi ra ngoài khi Sophie quay trở vào phòng lâu đài. “Anh ấy có vẻ buồn bã dữ lắm,” Michael nói. Sophie nhìn ra cánh cửa. Nút vặn màu đen chĩa xuống. Không có buồn đến nỗi! cô nghĩ.

Michael cũng ra ngoài, đến Cesari’s, buổi sáng đó, và Sophie ở một mình trong tiệm. Thời tiết rất là nóng. Những đóa hoa héo tàn tuy có các lời nguyền, và chỉ vài người muốn mua hoa. Những chuyện như thế, và cái rễ ớt mã, con bù nhìn, tất cả xúc cảm của Sophie dồn lại thành một đống. Cô hoàn tòan khốn khổ.

“Có lẽ là cái lời nguyền đó cứ lơ lửng muốn bắt được Howl,” cô nói với những đóa hoa, “nhưng tôi nghĩ đó là tại vì là con cả. Nhìn tôi nè! Tôi đi ra ngoài kiếm vận may và cuối cùng cũng trở về nơi mình bắt đầu, và vẫn già cỗi như thế!”

Đến đây thì người-chó đặt cái mũi tròn đỏ của mình lên cánh cửa thông đến sân và rên lên một tiếng. Sophie thở dài. Không có một giờ trôi qua mà con thú đó không kiểm tra cô. “Vâng, tôi vẫn còn ở đây,” cô nói. “Ngươi tưởng ta ở đâu chứ?”

Con chó bước vào trong tiệm. Y ngồi dậy và vươn món ra thẳng cứng trước mặt. Sophie nhận ra y đang cố biến thành hình người. Con vật tội nghiệp. Cô đã cố đối xử tốt với y bởi vì y, nói cho cùng, còn tệ hại hơn là cô nữa.

“Cố hơn nữa đi,” cô nói. “Cố ưỡn cái lưng ra. Cậu có thể làm người nếu cậu muốn.”

Con chó vươn mình, và ưỡn lưng ra, kéo và kéo. Và cũng như Sophie chắc là y sẽ thất bại hay là bị té ra sau, y đã đặt được chân sau lên và nâng lên thành một người đàn ông tóc đỏ hoe, khuôn mặt phiền muộn.

“Tôi ghen tỵ - Howl,” y thở hồng hộc. “Làm chuyện đó – thật dễ dàng. Tôi là – con chó trong bụi cây – bà giúp tôi. Nói với Lettie – tôi biết bà – tôi đã quan sát. Tôi đã - ở đây trước kia khi…” Anh ta bắt đầu uốn người lại thành chó và tru lên bất mãn. “Với bà phù thủy trong tiệm!” tiếng nói trở thành tiếng hú, và ngã người xuống hai tay, thân trổ ra thật nhiều lông xám và trắng.

Sophie nhìn con chó to lớn râu ria đứng trước mặt. “Ngươi đã ở đó với bà phù thủy!” cô nói. Cô nhớ lại rồi. Người đàn ông tóc hung đỏ đã nhìn cô kinh hoảng. “Vậy ngươi biết ta là ai và biết ta đã bị phù phép. Vậy là Lettie biết luôn phải không?”

Con chó to lớn đầy lông gật đầu.

“Bà ta gọi ngươi là Gaston,” Sophie nhớ lại. “Ồ, bạn ơi, bà ta thật đã làm khó ngươi! Cái đám lông lá đó trong thời tiết này! Tốt nhất là nên đi chỗ nào mát đi.”

Con chó gật đầu lần nữa và cúp đuôi đau khổ chạy vào trong vườn.

“Nhưng tại sao Lettie lại bảo ngươi tới?” Sophie thắc mắc. Cô cảm thấy rất khó chịu và bực bội về sự khám phá này. Cô lên lầu và qua nhà kho để nói chuyện với Calcifer.

Calcifer cũng chẳng giúp được gì. “Bao nhiêu người biết cô bị phù phép thì có khác gì đâu,” cậu ta nói. “Cứ coi con chó đó là biết, đúng không?”

“Đúng, nhưng mà…” Sophie bắt đầu, nhưng, khi ấy, cửa lâu đài kẹt và mở ra. Sophie và Calcifer cùng ngoái nhìn. Họ thấy nút vặn cửa vẫn có màu đen xuống, và họ đoán là Howl sẽ bước qua cửa ấy. Thật khó mà nói ai trong họ kinh ngạc hơn khi người bước qua cửa một cách cẩn thận là cô Angorian.

Angorian cũng kinh ngạc không kém. “Ồ, tôi thành thật xin lỗi!” cô nói. “Tôi tưởng anh Jenkins sẽ ở đây.”

“Anh ta đi rồi,” Sophie lạnh lùng đáp, và thắc mắc không biết Howl đi đâu, nếu không phải là đi thăm cô Angorian.

Angorian buông tay khỏi cửa, mà cô đã níu chặt lấy trong cơn kinh ngạc. Cô để nó mở nó toang ra và bước từng bước khẩn cầu đến phía Sophie. Sophie thấy mình đã đứng dậy và bước ngang qua phòng. Dường như là cô đang chặn đường Angorian lại. “Xin làm ơn,” cô Angorian nói, “đừng nói với anh Jenkins tôi đang ở đây. Tôi xin nói thật, tôi chỉ khuyến khích anh ấy để tìm kiếm tin tức về hôn phu của tôi – anh Ben Sullivan. Tôi chắc chắn Ben đã mất tích vào chỗ mà anh Jenkins hay biến mất. Chỉ là Ben đã không trở về.”

“Không có ai là Sullivan ở đây,” Sophie đáp. Cô thầm nghĩ, Đó là tên của Pháp sư Suliman! Ta không tin một lời nào đâu!

“Ồ, tôi biết thế,” Angorian tiếp. “Nhưng có lẽ chỗ này là đúng nơi rồi. Tôi có thể nhìn quanh một chút để biết anh Ben đã làm gì ở đây không?” Cô vén một lọn tóc đen sau tai và bắt đầu tiến sâu vào phòng. Sophie lập tức chặn lại. Điều này ép Angorian nhón chân bước ngang đến bàn làm việc. “Thật là đơn sơ!” cô nói, nhìn vào đống chai lọ. “Một thị trấn đơn sơ!” cô tiếp, nhìn ra ngoài cửa sổ.

“Đó là Market Chipping,” Sophie đáp, và cô cũng chuyển qua ngáng đường và đẩy Angorian lùi lại cửa.

“Và trên lầu kia là cái gì?” cô Angorian hỏi, chỉ cánh cửa mở lên trên lầu.

“Phòng riêng của Howl,” Sophie nói chắc chắn, tiếp tục đẩy Angorian lùi lại.

“Còn cái gì bên cánh cửa kia?” Angorian hỏi.

“Một tiệm hoa,” Sophie đáp. Đồ tò mò! cô nghĩ.

Lúc này thì Angorian bị ép hoặc là phải đụng vào ghế hay phải lùi ra ngoài cửa. Cô nhìn chăm chăm vào Calcifer nhíu mày như thể cô không chắc là mình đang nhìn thấy gì, và Calcifer đơn giản chỉ ngó mà không nói gì cả. Điều này làm Sophie thấy tốt hơn về việc mình không thân thiện lắm. Chỉ có người thật sự hiểu Calcifer mới được mời vào nhà của Howl.

Nhưng bây giờ Angorian đã lượn quanh cái ghế và nhìn thấy cây đàn guitar của Howl đang dựa vào trong góc tường. Cô chộp lấy nó, hơi thở trở nên gấp gáp và quay lại, ôm chặt vào ngực. “Làm sao bà có cây đàn này?” cô hỏi, giọng run run xúc động. “Ben có cây đàn y như thế này! Nó có thể là của Ben!”

“Tôi nghe nói Howl đã mua nó vào mùa đông năm ngoái,” Sophie đáp. Và cô lại tiến đến phía trước, cố dồn Angorian ra khỏi góc tường và qua cánh cửa.

“Có chuyện gì đã xảy ra với Ben rồi!” Angorian đau khổ. “Anh ấy không bao giờ lìa khỏi cây đàn guitar này! Anh ở đâu? Tôi biết anh ấy không thể chết. Trong thâm tâm tôi sẽ biết nếu anh có chuyện!”

Sophie không biết có nên nói với Angorian là mụ phù thuỷ đã bắt Pháp sư Suliman rồi không. Cô nhìn quanh để xem cái sọ người ở đâu. Cô định vẫy nó trước mặt cô Angorian và nói đó là sọ của Pháp sư Suliman. Nhưng cái sọ đang ở trong bồn nước, giấu mình trong đống cây dương xỉ và hoa huệ, và cô biết là nếu mình đi về phía đó, Angorian sẽ lẻn qua vào trong phòng nữa. Ngoài ra, đó cũng thật tàn nhẫn.

“Tôi có thể giữ cây đàn này không?” cô Angorian hỏi giọng khàn khàn, tay ghì chặt lấy nó. “Để giữ kỷ niệm về anh Ben.”

Giọng nghẹn ngào của cô Angorian làm Sophie bực bội. “Không,” cô nói. “Không việc gì phải căng thẳng đến thế. Cô đâu có chứng cớ gì cây đàn này của anh ta.” Cô lạch bạch đến gần Angorian và chộp lấy cổ cây đàn guitar. Angorian mở to cặp mắt đau khổ lên chăm chăm nhìn cô. Sophie kéo tay. Cô Angorian cố giữ. Cây đàn guitar bật lên một âm thanh chói tai. Sophie giật mạnh nó ra khỏi tay của Angorian. “Đừng có ngốc nghếch,” cô nói. “Cô không có quyền bước vào lâu đài và lấy đi đàn của người ta. Tôi đã nói là ông Sullivan gì đó không có ở đây. Bây giờ thì quay trở lại Wales đi. Đi đi.” Cô dùng cây đàn guitar đẩy cô Angorian lùi lại cánh cửa đang mở toang.

Angorian trở lại hư không cho đến khi nửa người đã biến mất. “Bà khó tính quá,” cô quở.

“Đúng đó!” Sophie trả lời và sập cửa lại. Cô quay nút màu cam xuống để ngăn cô Angorian quay trở lại và thẩy cây đàn guitar trở lại góc phòng gây nên tiếng kêu vang. “Và đừng có nói cho Howl biết cô ta ở đây đó!” cô hét lớn với Calcifer. “Tôi cá cô ả đến để thăm Howl. Mấy lời kia chỉ là nói dối. Pháp sư Suliman đã sinh sống ở đây, mấy năm trước rồi. Anh ta có lẽ đến đây để tránh cái giọng thổn thức đáng ghét của ả!”

Calcifer khúc khích. “Tôi chưa từng thấy ai bị đuổi nhanh như thế!” hỏa yêu nói.

Điều này làm Sophie cảm thấy vừa tàn nhẫn vừa hối hận. Nói cho cùng thì cô cũng đã xông vào lâu đài bằng cách như thế, và cô còn nhiều chuyện gấp đôi Angorian. “Gah!” cô nói. Cô bước ào vào trong phòng tắm và ngó chăm chăm khuôn mặt nhăn nheo già nua của mình trong gương. Cô nhặt lên một cái túi đề DA, rồi lại thảy nó xuống. Ngay cả lúc còn trẻ, cô không nghĩ khuôn mặt mình có thể so sánh với mặt của cô Angorian. “Gah!” cô nói. “Doh!” Cô lại ì ạch nhanh chóng trở ra, tay chộp lấy mấy đóa dương xỉ và hoa huệ trong bồn rửa chén. Cô mang chúng, vẫn còn sũng nước, ra ngoài tiệm, và dúi chúng vào cái chậu chứa đầy thần chú nuôi dưỡng. “Biến thành hoa thủy tiên!” giọng cô giận dữ, khàn khàn. “Biến thành hoa thủy tiên vào tháng Sáu, bọn yêu quái!”

Người-chó đặt khuôn mặt lông lá lên cửa. Vừa nhìn thấy tâm trạng của Sophie, y lùi trở ra ngay lập tức. Michael vui vẻ bước vào với một cái bánh nướng thật lớn trên tay, Sophie liếc nhìn cậu một cách khủng khiếp đến nỗi cậu tức khắc nhớ đến câu thần chú Howl đã kêu cậu làm và biến thật nhanh vào nhà kho.

“Gah!” Sophie gầm gừ đằng sau lưng cậu. Cô lại cúi người xuống chậu. “Hoa thủy tiên! Hoa thủy tiên!” cô hét. Cô không cảm thấy thoải mái hơn chút nào dù biết rằng mình đang cư xử cực kỳ ngốc nghếch.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 5:28 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 19
Sophie thể hiện tình cảm bằng thuốc diệt cỏ


Howl mở cánh cửa tiệm hoa khi trời vừa chạng vạng, anh nhẩn nhơ bước vào, miệng huýt sáo líu lo. Dường như anh đã quên chuyện rễ cây ớt mã rồi. Sophie không mấy gì vui vẻ dù biết anh cuối cùng cũng không đến xứ Wales. Cô gởi cho anh một cái liếc nhìn dữ dội nhất.

“Ối quỷ thần ôi!” Howl nói. “Tôi hóa đá mất thôi! Bộ có chuyện gì hả?”

Sophie chỉ gầm gừ, “Cậu đang bận bộ áo nào thế?”

Howl nhìn xuống bộ y phục màu đen. “Có gì hay sao?”

“Phải!” Sophie gầm lên. “Và đừng có nại lý do đang có tang! Thật ra là bộ nào chứ?”

Howl nhún vai và nắm giữ một tay áo như thể anh không chắc nó là bộ nào. Anh nhìn chằm chằm, vẻ bối rối. Màu đen chạy thẳng từ vai anh xuống tay áo. Vai và đầu cổ áo biến thành màu nâu, rồi xám, trong khi tay áo biến thành màu mực, cho đến khi Howl bận y phục màu đen với một tay áo xanh bạc với vạt áo dường như bị nhúng vào lọ mực. “Bộ đó,” anh nói, và để màu đen lan đến vai anh lần nữa.

Sophie lại càng bực bội hơn bao giờ hết. Cô hứ lên một tiếng cau có nổi giận.

“Sophie!” Howl nói nửa cười đùa, nửa van vỉ.

Người-chó đẩy cửa sân và len lén bước vào. Y không bao giờ để Howl trò chuyện lâu với Sophie.

Howl ngó nó chằm chằm. “Bây giờ bà lại có một con chó chăn cừu,” anh nói, như thể là vui mừng vì bị gián đoạn. “Nuôi hai con chó phải tốn kém lắm đây.”

“Chỉ có một con đó thôi,” Sophie khó chịu trả lời. “Anh ta bị phù phép mà.”

“Thật?” Howl đáp, và anh tiến bước đến con chó bằng một tốc độ cho Sophie thấy anh rất vui được cách xa khỏi cô. Điều này dĩ nhiên là điều cuối cùng mà người-chó muốn. Y lùi lại. Howl chồm xuống, và hai tay chụp lấy bộ lông xồm xoàm của con chó trước khi nó ra ngoài cửa. “Đúng vậy rồi!” anh nói, và quỳ xuống nhìn vào phần còn lại của đôi mắt con chó. “Sophie,” anh nói, “sao bà lại không nói với tôi chuyện này? Con chó này là người! Anh ta đang rất khốn khổ!” Howl quay lại trên một chân, tay vẫn giữ chặt con chó. Sophie nhìn vào cặp mắt thủy tinh của Howl và nhận ra anh đang rất tức giận, thật sự tức giận.

Tốt. Sophie đang muốn gây lộn. “Cậu có thể tự mình thấy mà,” cô nói, trừng mắt lại, thách thức Howl chảy nhớt xanh ra. “Dù sao đi nữa, con chó cũng không muốn…”

Howl giận đến nỗi không muốn nghe nữa. Anh nhảy bật dậy và kéo con chó lê trên sàn. “Và tôi đã có thể thấy, nếu tôi không có cả tá việc khác trong đầu,” anh trả lời. “Đến đây. Tôi muốn cậu đến trước Calcifer.” Con chó cố trì trên bốn chân lông lá. Howl vẫn kéo thật mạnh, mặc cho nó cưỡng lại. “Michael!” anh hét lên.

Có một giọng đặc biệt trong tiếng kêu đó làm Michael chạy hộc tốc tới.

“Và cậu có biết con chó này là người không?” Howl hỏi khi anh và Michael kéo con chó lên cầu thang.

“Không phải vậy chứ?” Michael hỏi, ngạc nhiên đến hết hồn.

“Vậy tôi tha cho cậu và chỉ trách Sophie thôi,” Howl nói, đẩy con chó qua nhà kho. “Bất cứ thứ gì thế này đều là do Sophie cả! Nhưng cậu biết, đúng không, Calcifer?” anh phán khi cả hai kéo con chó đến trước bếp lửa.

Calcifer lùi lại cho đến khi cậu ta đụng ống khói. “Cậu có bao giờ hỏi đâu,” hỏa yêu đáp.

“Bộ tôi phải hỏi hay sao?” Howl nói. “Được rồi! Đáng lẽ tôi phải tự nhận thấy chuyện này! Nhưng cậu làm tôi thất vọng quá, Calcifer! So với cách mà mụ phù thủy đối xử với hỏa yêu của mụ, cậu có cuộc sống quá dễ dàng, và tôi chỉ yêu cầu cậu có một chuyện là nói cho tôi những chuyện tôi cần biết. Đây là lần thứ hai cậu làm tôi thất vọng! Bây giờ hãy giúp tôi biến con vật này trở lại hình dạng cũ ngay bây giờ!”

Khuôn mặt Calcifer biến thành xanh lè xanh lét. “Được rồi,” cậu ta giận dỗi nói.

Người-chó cố gắng thoát khỏi, nhưng Howl đẩy vai mình dưới ngực nó và huých mạnh, khiến nó chổng bốn vó lên trời. Đoạn anh và Michael giữ nó như thế. “Sao con vật ngu ngốc này còn chống cự làm gì?” Howl thở hồng hộc nói. “Dường như lại là một tác phẩm của mụ phù thủy Hoang Phế, phải không?”

“Đúng. Có tới mấy lớp ma thuật lận,” Calcifer đáp.

“Vậy ít nhất cũng lấy lớp chó ra đi,” Howl nói.

Calcifer búng mình lên thành một màu xanh thẳm và rống lên dữ dội. Sophie, cẩn thận đứng từ sau cánh cửa nhà kho để theo dõi, nhìn thấy thân hình con chó từ từ biến mất để lộ hình dáng người bên trong. Nó lại biến thành chó lần nữa, rồi trở về thành người, mờ mờ, rồi rắn lại. Cuối cùng, Howl và Michael mỗi người giữ một cánh tay của một người đàn ông tóc hung đỏ trong bộ y phục màu xám nhăn nheo. Sophie không ngạc nhiên khi cô không nhận ra người đó. Ngoài khuôn mặt buồn bực, khuôn mặt anh ta hoàn toàn không có nét cá tính nào hết.

“Nào, bạn hiền, anh là ai đây?” Howl hỏi người đó.

Anh ta giơ hai tay lên và run rẩy rờ lên mặt mình. “Tôi – tôi không biết.”

Calcifer đáp thay, “Tên gần đây nhất mà anh ta trả lời là Percival.”

Người đó nhìn Calcifer như thể ước chi Calcifer không biết điều đó. “Vậy ư?” anh ta nói.

“Vậy thì giờ chúng ta gọi anh là Percival,” Howl nói. Anh quay người ấy một vòng và đặt ngồi vào trong ghế. “Anh ngồi đó đi, và kể cho chúng tôi những gì anh còn nhớ. Theo kiểu của anh như vậy thì mụ phù thủy chắc cũng phải bắt giữ anh lâu rồi.”

“Vâng,” Percival đáp, chà mặt mình lần nữa. “Bà ta cắt đầu tôi ra. Tôi… tôi nhớ đã nằm trên một cái kệ, nhìn xuống thân thể của mình.”

Michael kinh ngạc. “Nhưng vậy là anh đã chết rồi!” cậu phản đối.

“Không cần thiết,” Howl nói. “Cậu còn chưa học đến loại pháp thuật đó, nhưng tôi có thể lấy ra bất cứ phần thân thể nào tôi muốn mà vẫn giữ phần còn lại sống sót, nếu tôi làm đúng cách.” Anh nhíu mày với người-chó cũ. “Nhưng tôi không chắc mụ phù thủy đặt anh lại tử tế.”

Calcifer, rõ ràng đang tìm cách chứng minh là cánh tay đắc lực của Howl, nói, “Anh ta còn chưa có đầy đủ, và còn bị ghép vào mấy phần của người khác nữa.”

Percival trông có vẻ xanh xao hơn bao giờ.

“Đừng làm anh ấy sợ, Calcifer,” Howl nói, “Anh ta đã cảm thấy tồi tệ quá rồi. Anh có biết tại sao mụ phù thủy lấy đầu anh không, bạn hiền?” anh hỏi Percival.

“Không,” Percival đáp. “Tôi không nhớ gì cả.”

Sophie biết điều đó không thể là sự thật. Cô khì mũi.

Michael đột nhiên có một sáng kiến thú vị. Anh dựa vào Percival và hỏi, “Anh có bao giờ trả lời với cái tên Justin – hay là Hoàng tử không?”

Sophie lại khịt mũi nữa. Cô biết điều này là tức cười ngay cả trước khi Percival nói, “Không. Bà ấy gọi tôi là Gaston, nhưng đó cũng không phải là tên của tôi.”

“Đừng ép anh ta nữa, Michael,” Howl nói. “Và đừng có làm Sophie khịt mũi nữa. Với tâm trạng như thế, bà ta sẽ làm sập cả lâu đài này mất.”

Dù đó có nghĩa là Howl không còn giận nữa, Sophie vẫn thấy muốn nổi điên hơn bao giờ. Cô dậm chân bước vào trong tiệm, khua khoắng mọi thứ, đóng cửa tiệm và cất mọi thứ để chuẩn bị đi ngủ. Cô đến nhìn mấy bông hoa thủy tiên. Có gì đó rất là sai trái đã diễn ra. Chúng trở thành một đống bầy hầy màu nâu trào ra khỏi chậu đang chứa đầy một chất nước hôi mùi độc nhất mà cô từng thấy.

“Ồ, quỉ quái gì đâu này!” Sophie hét toáng lên.

“Chuyện gì nữa đây?” Howl nói, bước vào trong tiệm. Anh cúi mình xuống cái chậu và hít mũi. “Bà có một chậu thuốc diệt cỏ mạnh lắm đấy. Sao không thử với đám cỏ dại ngoài biệt thự đi?

“Được mà,” Sophie nói. “Tôi đang muốn giết cái gì đó đây!” Cô đập cửa rầm rầm cho đến khi tìm được một cái muôi, chân dậm thình thịch bước qua cửa lâu đài với cái xô và muôi, cô đạp tung cánh cửa, vặn nút màu cam xuống, vào con đường nhỏ trước cổng biệt thự. Percival ngước lên sợ hãi. Họ đã đưa cho anh cây guitar, như là đưa cho đứa bé một cây lục lạc, và anh ngồi đó khảy ra những âm thanh kinh khủng.

“Đi theo bà ấy đi, Percival,” Howl nói. “Trong tình trạng này bà có thể giết cả hàng cây luôn quá.”

Percival đặt cây đàn guitar xuống và cẩn thận lấy cái xô ra khỏi tay Sophie. Sophie giận dỗi dậm chân bước ra ngoài buổi hoàng hôn vàng ở cuối thung lũng. Mọi người đều quá bận rộn để chú ý đến ngôi biệt thự. Nó huy hoàng hơn là Sophie nhớ nhiều lắm. Mái hiên đầy cỏ dại với những bức tượng xung quanh, dàn hai bên lối đi. Khi Sophie quay lại – giả vờ kêu Percival nhanh chân lên – cô nhận ra căn nhà rất lớn, với nhiều tượng nhỏ chạm trổ quanh mái, và nhiều dãy cửa sổ. Nhưng nó cũng rất hoang tàn. Nấm mốc xanh viền trên tường từ mọi cửa sổ. Nhiều cửa kính đã bị bể, và các tấm màn che đáng lẽ phải được gấp lại cạnh bức tường, giờ lại chuyển màu xám, rách nát và treo lơ lửng hai bên.

“Huh!” Sophie nói. “Ít nhất Howl có thể biến chỗ này thành nơi trông khang trang một chút. Nhưng không! Anh ta quá bận rộn lang thang đến xứ Wales! Đừng có đứng đó, Percival! Đổ thuốc vào muôi và đi theo sau tôi đi.”

Percival ngoan ngoãn làm y như cô nói. Anh ta không vui vẻ gì khi bị đàn áp. Sophie đoán như vậy vì Howl đã bảo y đi với cô. Cô khì mũi và trút giận lên đám cỏ dại. Thứ thuốc đã giết chết hoa thủy tiên, rất là mạnh. Đám cỏ dại bên vệ đường chết ngay khi bị rưới uớt. Và đám cỏ sát hai bên đường cũng cùng chung số phận cho đến khi Sophie hạ hỏa một chút. Ánh hoàng hôn làm dịu cơn giận của cô. Không khí trong lành thổi từ cánh đồi xa xa, và hàng cây hai bên đường lung lay tuyệt đẹp.

Sophie diệt cỏ đến gần một phần tư con đường. “Cậu nhớ nhiều hơn là cậu nói ra,” cô trách Percival khi anh ta đổ đầy muôi của cô. “Mụ phù thủy thật sự muốn gì ở cậu? Tại sao bà ta lại đem cậu vào tiệm lần đó chứ?”

“Bà ta muốn tìm Howl,” Percival đáp.

“Howl?” Sophie nói. “Nhưng cậu đâu có biết anh ta, đúng không?”

“Không, nhưng tôi phải biết cái gì đó. Liên quan đến lời nguyền trên mình anh ấy,” Percival giải thích, “nhưng tôi không biết đó là cái gì. Bà ta đã lấy được nó, ngay sau khi chúng tôi rời khỏi tiệm. Tôi thấy rất hối hận về chuyện đó. Tôi cố ngăn không cho bà ta biết, bởi vì lời nguyền là một điều rất xấu xa, và tôi làm chuyện đó cho Lettie. Lettie ở trong tâm trí tôi. Tôi không biết tại sao tôi lại biết cô ấy, bởi vì Lettie nói cô chưa bao giờ nhìn thấy tôi trên Upper Folding. Nhưng tôi biết hết về cô ấy – đủ để khi mụ phù thủy bảo tôi kể về Lettie, tôi nói cô ấy có một cái tiệm nón trong Market Chipping. Vì vậy mụ phù thủy đến đó để dạy cho hai chúng tôi một bài học. Và cô ở đó. Bà ta tưởng cô là Lettie. Tôi rất kinh hãi, vì tôi không biết Lettie còn có một người chị.”

Sophie múc lấy một muôi đầy và ra tay tàn sát cỏ, ước chi đám cỏ là mụ phù thủy. “Và bà ấy biến cậu thành chó ngay sau đó?”

“Chỉ bên ngoài ngoại ô thôi,” Percival đáp. “Ngay khi tôi cho mụ biết cái cần biết, bà mở cửa cỗ xe ngựa và nói, ‘Chạy đi nào. Tôi sẽ gọi khi nào tôi cần.’ Và tôi chạy, bởi vì tôi có thể cảm thấy có lời nguyền nào đó đang bám theo thôi. Nó bắt được tôi khi tôi đến một trang trại, và những người ở đó thấy tôi biến thành chó, họ tưởng là người sói và muốn giết tôi. Tôi đã phải cắn một người mới chạy thoát. Nhưng tôi không thể thoát khỏi cây gậy, và nó kẹt vào bụi cỏ khi tôi muốn băng qua.”

Sophie vừa lắng nghe, vừa diệt được một nửa chặng đường cỏ nữa. “Rồi cậu đến nhà dì Fairfax?”

“Đúng. Tôi đi tìm Lettie. Cả hai người bọn họ đều rất tốt với tôi,” Percival nói, “mặc dù họ chưa từng nhìn thấy tôi bao giờ. Và Pháp sư Howl lúc nào cũng đến thăm Lettie. Lettie không thích anh ta, và kêu tôi cắn đuổi y đi, cho đến khi Howl tự nhiên hỏi đến cô và…”

Sophie xém một chút xíu là đã tưới thuốc diệt cỏ lên giày mình. Lớp đất cát dưới chân bốc khói lên khi chạm phải thuốc, chuyện này có lẽ cũng phải thế. “Cái gì?”

“Anh ta nói, ‘Tôi biết có một người tên Sophie trông giống cô lắm.’ Và Lettie buột miệng, ‘Đó là chị của em,’ mà không nghĩ ngợi,” Percival tiếp. “Rồi em ấy lo lắng dễ sợ, nhất là khi Howl tiếp tục hỏi thăm về cô. Lettie hối hận đến nỗi có thể cắn lưỡi mà chết. Ngày mà cô đến, em ấy chỉ giả bộ xử tốt với Howl để tìm xem y biết gì về cô. Howl nói cô là một bà già. Và dì Fairfax nói đã gặp cô. Lettie khóc sướt mướt. Em nói, ‘Có chuyện kinh khủng đã xảy ra với chị Sophie rồi! Và kinh khủng nhất là chị ấy tưởng mình an toàn với Howl. Sophie quá mềm yếu để nhìn thấy sự vô tâm của Howl!’ Và em đã buồn rầu đến nỗi tôi biến thành người trong một thời gian lâu đủ để nói với em là tôi sẽ đến đây bảo vệ cho cô.”

Sophie vẩy thuốc diệt cỏ thành một vòng lớn bốc khói nghi ngút. “Lettie đáng thương! Nó thật tốt bụng, và đó là điều làm tôi càng yêu mến nó. Tôi cũng lo lắng cho nó lắm. Nhưng tôi không cần một con chó canh gác!”

“Cô cần mà,” Percival đáp. “Hoặc đã cần. Tiếc là tôi đến nơi quá trễ.”

Sophie quay bật lại, tay vẫn cầm muôi thuốc diệt cỏ. Perchival phải phải nhảy vào trong bụi và chạy thục mạng nấp sau cái cây gần nhất. Cỏ chết thành một đường xám dài sau lưng cậu ta. “Mọi người đáng ghét!” Sophie hét lên. “Ta chịu đủ tất cả rồi!” Cô thẩy cái muôi bốc khói đó xuống đường và dậm chân qua đám cỏ dại đến cổng đá. “Quá trễ!” cô vừa đi vừa lầm bầm. “Không lý nào! Howl không chỉ vô tâm, y còn quá vô lý! Hơn nữa,” cô thêm vào, “ta là một bà già.”

Nhưng cô không thể chối bỏ có việc gì đó không rất sai trái từ khi lâu đài biết đi chuyển nhà, hay ngay cả trước đó. Và dường như nó liên quan đến cách Sophie không thể đối diện với hai cô em gái.

“Và tất cả những gì tôi kể với nhà vua đều đúng!” cô tiếp tục. Cô sẽ mang đôi hia bảy dặm lên chân và không trở về nữa. Cho mọi người thấy! Ai cần việc bà Pentstemmon tội nghiệp đã nhờ cậy Sophie ngăn cản Howl khỏi trở thành xấu xa! Sophie là một thất bại mà. Điều này là lẽ tất nhiên với người con cả. Và bà Pentstemmon đã nghĩ Sophie là bà mẹ già của Howl. Phải không? Đúng không? Sophie bứt rứt nghĩ lại, một pháp sư có thể dễ dàng nhìn thấy bộ quần áo bị may phép thuật lẫn vào trong sợi chỉ thì chắc chắn có thể dễ dàng nhận ra pháp thuật mạnh hơn của mụ phù thủy.

“Ồ, cái bộ áo xám đỏ đáng ghét!” Sophie nói. “Ta không tin ta là người duy nhất bị nó ám!” Vấn đề là bộ xanh bạc dường như cũng mang ảnh hưởng tương tự. Cô dậm chân thêm vài bước nữa. “Dù sao,” cô thở dài nhẹ nhõm, “Howl cũng đâu có thích ta!”

Ý nghĩ này đáng lẽ đủ để cho Sophie phải trằn trọc thức cả đêm, nếu không có một cảm giác lo lắng quen thuộc tràn qua người cô. Đôi tai cô nghe được tiếng tock, tock, tock khe khẽ. Cô lập tức quay đầu dưới ánh mặt trời sắp lặn. Và ở đó, trên con đường bên ngoài cánh cổng đá, là một hình dáng gầy gầy với hai cánh tay giang ra, nhảy từng bước một.

Sophie kéo váy lên, quay lại, và chạy trở lại con đường cô đã bước đi. Bụi và cát bay mù mịt dưới chân. Percival đang đứng lạc lõng giữa đường, cạnh cái xô và muôi nước. Sophie kéo tay cậu ta tới núp sau gốc cây gần nhất.

“Có chuyện gì sao?” anh nói.

“Im đi! Là cái con bù nhìn kia nữa,” Sophie thở hồng hộc. Cô nhắm mắt lại. “Chúng ta không có ở đây,” cô nói. “Ngươi không tìm thấy ta. Đi đi. Đi đi nhanh lên, nhanh, nhanh!”

“Nhưng tại sao…?” Percival hỏi.

“Im nào! Đừng tới đây, đừng tới đây, đừng tới!” Sophie tuyệt vọng. Cô mở một con mắt. Bù nhìn, gần như đứng chính giữa cổng, đang đứng yên, mình lắc lư không chắc chắn. “Đúng đó,” Sophie tiếp. “Ta không có ở đây. Đi nhanh đi. Nhanh gấp đôi, nhanh gấp ba, nhanh gấp mười lần. Đi đi mà!”

Bù nhìn gượng gạo lắc lư vòng vòng trên cái cây và bắt đầu nhảy tưng tưng quay trở lại trên đường. Sau vài cú nhảy, nó bắt đầu từng bước nhảy xa hơn, nhanh hơn và nhanh hơn, như Sophie đã bảo. Sophie thở phì phò, và không thả tay áo của Percival ra cho đến khi bù nhìn khuất hẳn tầm mắt.

“Sao thế?” Percival hỏi. “Sao cô không thích nó hả?”

Sophie rùng mình. Nếu bù nhìn đang ở trên đường, cô không dám rời nhà nữa. Cô nhặt lấy xô nước và quay trở lại biệt thự. Một sự dao động đập vào mắt cô khi cô đang đi. Cô nhìn lên tòa nhà. Sự dao động từ những tấm màn che đang bay phất phới từ những cánh cửa sổ kiểu Pháp đang mở toang phía sau những bức tượng của mái hiên. Các bức tượng bây giờ thật sạch sẽ trắng toát, và cô có thể thấy các màn che từ hầu hết cửa sổ, và cả cửa kiếng nữa. Tấm sáo giờ gấp lại ngay ngắn bên cạnh chúng, màu sơn trắng mới tinh. Không một chút vết rêu xanh hay vết nứt nào trên phần trước màu kem thạch cao của căn nhà. Cánh cửa nhà là một tác phẩm sơn đen vàng tuyệt đẹp, chính giữa là một con sư tử với vòng tròn trong miệng làm chuông kêu cửa.

“Huh!” Sophie nói.

Cô chống lại sự cám dỗ đi vào cửa sổ mở và xem xét. Đó chắc chắn là điều Howl muốn cô làm. Cô đi thẳng đến cửa trước, nắm quả đấm cửa và mở ầm cánh cửa ra. Howl và Michael đang ngồi ở góc làm việc, hớt hơ hớt hải thủ tiêu thần chú. Một phần phải là chú để đổi căn biệt thự, nhưng phần còn lại, Sophie biết quá rõ, chắc chắn là loại chú nghe lén nào đó. Khi Sophie xông vào, cả hai đều liếc nhìn cô ngại ngùng. Calcifer lập tức vùi đầu xuống đống củi.

“Đứng đằng sau lưng anh, Michael,” Howl nói.

“Đồ nghe lén!” Sophie hét lên. “Rình mò!”

“Sao thế?” Howl giả vờ. “Bà muốn màn che có màu đen vàng luôn không?”

“Đồ trơ tráo..” Sophie cà lăm. “Đó không phải là điều duy nhất ngươi nghe! Ngươi … ngươi… Ngươi biết ta là … là .. bao lâu rồi?”

“Bị phù phép?” Howl đáp. “À, nào…”

“Em nói đó,” Michael đáp, nhìn Howl ngại ngùng. “Lettie của em..”

“Cậu!” Sophie rít lên.

“Mà em Lettie kia cũng đã thú nhận rồi,” Howl nhanh chóng nói. “Cô biết mà. Dì Fairfax bữa đó cũng nói nhiều lắm. Có lúc mọi người dường như nói với tôi cả. Ngay cả Calcifer cũng thế - khi tôi hỏi. Nhưng bộ cô thực sự nghĩ tôi là pháp sư tệ đến nỗi không nhìn thấy một phép thuật cao siêu đến vậy ngay trước mặt mình hay sao? Tôi có vài lần thử gỡ bỏ nó ra khi cô không nhìn thấy. Nhưng không thành công. Tôi dắt cô tới bà Pentstemmon, hi vọng bà có thể giúp được cô, nhưng bà không làm gì hết. Tôi phải kết luận là cô thích hóa trang như thế.”

“Hóa trang!” Sophie hét.

Howl phá ra cười nắc nẻ. “Phải vậy rồi, bởi vì cô tự làm mình như thế mà,” anh nói. “Thật là một gia đình kỳ lạ! Tên thật của cô cũng là Lettie luôn hả?”

Lần này Sophie thật sự chịu hết nổi. Percival len lén bước vào khi ấy, tay cầm cái xô còn chứa nửa loại thuốc diệt cỏ. Sophie quăng cái muôi, hai tay chộp lấy cái xô, và tạt nó vào người Howl. Howl thụp xuống. Michael né được cái xô. Thuốc diệt cỏ bay tung lên thành một ngọn khói xanh lè từ sàn lên trần nhà. Cái xô kêu một tiếng vang rền và rơi vào trong bồn nước, những bông hoa trong đó chết ngay lập tức.

“Ow!” Calcifer vọng lên từ khúc củi. “Mạnh thiệt đó.”

Howl cẩn thận nhón lấy cái đầu lâu khỏi đống bầy hầy xám xịt của đám hoa và lấy tay áo chùi cẩn thận. “Dĩ nhiên phải mạnh rồi,” anh nói. “Sophie có bao giờ làm việc gì nửa vời đâu.” Cái đầu lâu, khi Howl lau chùi, trở nên một màu trắng sáng lóa, và tay áo anh dùng trở thành màu xanh bạc phai màu. Howl đặt đầu lâu trên kệ và nhìn lại tay áo mình rầu rĩ.

Sophie gần như muốn chạy ra ngoài lâu đài nữa và xuống đường. Nhưng vẫn còn có con bù nhìn đó. Cô đành phải ngồi phịch xuống ghế, khuôn mặt dàu dàu. Mình sẽ không nói chuyện với bọn họ nữa! cô nghĩ.

“Sophie,” Howl nói, “Tôi đã cố hết sức rồi. Cô không thấy là mấy cơn đau nhức gần đây đã đỡ hơn sao? Hay là cô cũng thích chúng?” Sophie không trả lời. Howl thất vọng và quay lại nói với Percival. “Tôi vui mừng thấy anh cũng thông minh đó chứ,” anh nói. “Anh làm tôi lo lắng đấy.”

“Tôi không nhớ nhiều đâu,” Percival nói. Nhưng anh ngừng việc cư xử như kẻ ngốc. Anh cầm lấy cây đàn và chỉnh dây. Anh ta làm nó phát ra âm thanh dễ chịu hơn rất nhiều.

“Vậy là sự buồn bã của tôi đã được giải thích,” Howl nói thê thảm. “Tôi đã sinh ra làm một người Welsh không biết âm nhạc. Anh đã kể hết cho Sophie nghe chưa? Hay là anh thật sự biết mụ phù thủy muốn tìm hiểu cái gì?”

“Bà ta muốn biết về xứ Wales,” Percival nói.

“Tôi cũng nghĩ thế,” Howl nói nghiêm chỉnh. “Ah, well.” Anh đi vào trong phòng tắm, và ở trong đó hơn hai tiếng kế tiếp. Trong khoảng thời gian ấy Percival dạo một vài bài trên cây đàn trong giai điệu trầm buồn, chậm chạp, như thể anh đang dạy mình làm thế nào, trong khi Michael lau chùi sàn nhà với cái giẻ rách bốc khói, cố chùi sạch cái chất thuốc diệt cỏ. Sophie ngồi trong ghế và không nói lời nào. Calcifer cứ trồi lên và liếc nhìn cô, rồi lại chui xuống đám củi.

Howl trở ra ngoài phòng tắm trong bộ áo đen sáng lóa, tóc màu trắng lấp lắm, và mùi khói thơm hương long dàm. “Tôi sẽ về trễ hôm nay,” anh nói với Michael. “Sau nửa đêm sẽ là ngày Hạ Chí, và mụ phù thủy sẽ thực hiện âm mưu. Vậy nên cậu phải cảnh giác và nhớ lời tôi giùm cái.”

“Em nhớ mà,” Michael nói, đặt phần giẻ lau chùi đang bốc khói vào bồn nước.

Howl quay qua Percival. “Tôi nghĩ tôi biết việc gì xảy ra cho anh rồi,” anh nói. “Sẽ rất khó khăn để giải quyết, nhưng tôi sẽ làm ngày mai khi tôi trở về.” Howl bước đến cửa, và ngừng lại với tay còn đặt trên vặn cửa, “Sophie, cô vẫn không nói chuyện với tôi sao?” anh hỏi giọng thê thảm.

Sophie biết Howl có thể rên rỉ ngay trên thiên đàng nếu anh muốn. Và anh chỉ lợi dụng cô để lấy tin từ Percival, “Không!” cô gừ.

Howl thở dài và đi ra. Sophie nhìn lên và thấy nút vặn cửa chĩa màu đen xuống. Thế là quá lắm! cô nghĩ. Không cần biết ngày mai là ngày Hạ Chí! Tôi đi đây.


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 5:30 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 20
Sophie gặp nhiều trắc trở hơn khi rời tòa lâu đài

Ngày Hạ Chí vừa ló dạng. Vào giây phút mà nó bắt đầu, Howl xông vào phòng gây ra tiếng động ầm ĩ đến độ Sophie phải bật dậy trong cái xó xỉnh của mình, tưởng là mụ phù thủy đã đuổi tới nơi.

“Bọn họ nhớ tới tôi đến nỗi lúc nào cũng chơi mà không mời tôi!” Howl rống lên. Sophie nhận ra anh đang cố hát bài ca chảo chiên của Calcifer và lại nằm xuống nữa, vừa lúc ấy thì Howl vấp chân và đá vào ghế dựa đến nỗi nó bay vào phía bên kia căn phòng. Sau đó, anh cố leo lên lầu qua cửa mở đến phòng chứa đồ và cửa ra sân. Việc này làm anh xoay mòng mòng một chút. Nhưng cuối cùng anh cũng khám phá ra cầu thang, trừ bậc thang đầu tiên, và té sấp mặt vào đó. Cả tòa lâu đài rung chuyển.

“Có chuyện gì thế?” Sophie hỏi, ló đầu qua khỏi lan can.

“Lễ họp mặt của câu lạc bộ chơi rugby,” Howl trả lời đầy tự hào. “Không biết tôi từng là đôi cánh của trường đại học hả, bà Mũi Dài?”

“Nếu như cậu muốn bay thì hẳn cậu đã quên cách bay thế nào rồi,” Sophie mỉa mai.

“Tôi sinh ra đã có đôi mắt kỳ diệu,” Howl nói, “thấy những điều không thể thấy được, và tôi chỉ định đi ngủ khi bà ngăn tôi. Tôi biết những năm tháng quá khứ ở đâu, và ai cắt chân quỷ.”

“Đi ngủ đi, thằng ngốc,” Calcifer nhừa nhựa nói. “Cậu say rồi.”

“Ai, tôi hả?” Howl đáp. “Tôi xin thề, bạn hiền, tôi hoàn tàng tỉn téo.” Anh đứng dậy và bò lên lầu, tay bám chặt tường như thể nó sẽ chạy trốn nếu anh không giữ lại. Cánh cửa phòng thoát khỏi tay anh. “Đó là một lời nói dối!” Howl nhận xét khi anh đập mặt vào tường. “Sự không thành thật sáng chói sẽ là cứu tinh của tôi.” Anh bước đụng tường vài lần nữa, ở nhiều chỗ khác nhau, trước khi anh khám phá cửa phòng ngủ và chân quàng chân xiên bước vào đó. Sophie có thể nghe thấy tiếng anh bị té, miệng lầm bầm lớn tiếng là cái giường nó biết chạy.

“Thiệt là vô tích sự!” Sophie nói, và cô quyết định sẽ rời khỏi ngay lập tức.

Rủi thay, tiếng động do Howl khua khoắng đánh thức cả Michael và Percival, giờ đây vẫn còn nằm ngủ trên sàn trong phòng Michael. Michael xuống cầu thang nói cậu đã tỉnh ngủ hẳn nên bọn họ cũng nên ra ngoài và hái hoa để kết vòng hoa mùa hè trong khi trời vẫn còn mát mẻ. Sophie không tiếc gì khi ra ngoài chỗ hái hoa lần cuối cùng. Làn sương mù ấm áp vẫn còn ngòai đó, bao trùm không khí mùi hương hoa và che nửa màu sắc của hoa. Sophie dò dẫm từng bước một, dùng cây gậy để tìm chỗ đất mềm, và lắng nghe tiếng hót líu lo của cả ngàn con chim, cảm thấy rất là hối tiếc. Cô vuốt cánh hoa huệ mềm như lụa và chọc một đóa hoa màu tím với nhị hoa dài thật dài. Cô nhìn trở lại tòa lâu đài cao lớn màu đen trong làn sương sau lưng họ. Cô thở dài.

“Anh ta làm nơi đây đẹp hơn,” Percival nhận xét khi anh đặt một chồng hoa dâm bụt vào bồn tắm biết bay của Michael.

“Ai?” Michael hỏi.

“Howl,” Percival đáp. “Lúc đầu chỗ này chỉ có bụi cây thôi, và chúng khá nhỏ, và khô cằn.”

“Anh đã nhớ từng ở đây hả?” Michael hăng hái hỏi. Cậu bé còn chưa từ bỏ ý tưởng là Percival có thể là Hoàng tử Justin.

“Tôi nghĩ tôi đã đến đây với mụ phù thủy,” Percival băn khoăn đáp.

Bọn họ hái đầy hai bồn tắm hoa. Sophie chú ý khi họ đi vào nhà lần thứ hai, Michael vặn nút trên cửa vài lần. Đó phải là có gì để làm với việc giữ mụ phù thủy ra ngoài. Dĩ nhiên còn có những vòng hoa Hạ chí phải kết. Công việc ấy đòi hỏi nhiều thời gian. Sophie tính để Michael và Percival làm, nhưng Michael còn bận hỏi chuyện Percival và Percival rất chậm chạp. Sophie biết điều gì làm Michael hứng thú đến thế. Xung quanh Percival bao trùm một sự bí ẩn nào đấy, như thể anh đang trông đợi có việc gì đó sẽ xảy ra. Sophie băn khoăn không biết anh vẫn còn bị ảnh hưởng của bà phù thủy bao nhiêu. Cô phải làm gần hết các vòng hoa. Bất cứ suy nghĩ nào về việc cô có thể ở lại và gúp Howl chống mụ phù thủy đã biến mất. Howl, người có thể hòan thành các vòng hoa chỉ bằng một cái phất tay, giờ đang ngáy pho pho thật to đến nỗi cô có thể nghe trong tiệm.

Cả ba miệt mài kết vòng hoa trễ đến nỗi tới giờ mở tiệm mà họ vẫn chưa hoàn thành. Michael lấy bánh mì và mật ong, và họ vừa ăn vừa tiếp lượt khách đầu tiên trong ngày. Mặc dù là ngày Hạ Chí, so với các ngày lễ khác, là một ngày xám xịt và lạnh lẽo ở trong Market Chipping, gần nữa thị trấn đến, diện trang phục lễ hội rục rỡ, để mua hoa tươi và vòng hoa cho lễ hội. Ngoài đường vẫn là đám đông chen lấn nhau như thường lệ. Nhiều khách vào cửa tiệm đến nỗi đến giữa trưa Sophie mới rón rén lên được cầu thang và qua phòng chứa đồ. Bọn họ bán được thật nhiều tiền, Sophie nghĩ khi vừa len lén, tém lương khô và quần áo thành một bọc, đến nỗi cái chỗ cất giấu kho tàng của Michael dưới bếp có thể tăng lên gấp mười lần.

“Bà tới nói chuyện với tôi hả?” Calcifer hỏi.

“Đợi chút đi,” Sophie nói, đi qua phòng với túi hành lý giấu sau lưng. Cô không muốn Calcifer làm dữ về cái hợp đồng.

Cô vừa với tay ra để lấy cây gậy đang dựa vào ghế, thì có tiếng gõ cửa. Sophie ngừng lại, cánh tay còn giơ ra, nhìn Calcifer dò hỏi.

“Cánh cửa biệt thự,” Calcifer nói. “Có xương thịt và vô hại.”

Tiếng cốc cốc vang lên nữa. Lúc nào cũng có chuyện khi ta muốn đi! Sophie nghĩ. Cô vặn nút màu cam xuống và mở cửa.

Một cỗ xe tuấn mã đang đậu ngoài cổng giữa hài hàng tượng. Sophie có thể thấy xa xa một xa phu cao lớn đang gõ cửa.

“Sacheverell Smith phu nhân đến thăm người hàng xóm mới,” người đó thông báo.

Thiệt là rắc rối! Sophie nghĩ. Kết quả của bộ sơn mới và khăn màn mới của Howl đó. “Chúng tôi không có ở nh…” cô bắt đầu. Nhưng bà Sacheverell Smith đã gạt gã phu xe sang một bên và bước vào.

“Đợi ngòai xe đi, Theobald,” cô nói với tùy tùng khi lướt qua Sophie, tay cầm cái dù xếp.

Đó là Fanny – Fanny trông cực kỳ hoa lệ trong màu áo lụa kem. Cô đang đội cái nón lụa kem viền hoa hồng, mà Sophie nhớ rất rõ. Cô nhớ mình đã nói với cái nón khi viền nó: “Ngươi sẽ lấy một người giàu có.” Và rõ ràng là Fanny đã làm y như thế.

“Kỳ thật!” Fanny nói, nhìn xung quanh. “Chắc có nhầm lẫn gì đây. Đây là phòng của gia nhân!”

“Well – er – chúng tôi chưa dời nhà xong, phu nhân,” Sophie nói, và băn khoăn không biết Fanny sẽ thấy thế nào nếu dì biết cái tiệm nón cũ kỹ chỉ ở phía sau phòng chứa đồ.

Fanny quay lại và há hốc miệng nhìn Sophie. “Sophie!” Fanny hét lên. “Ồ, quỷ thần ơi, con gái ơi, chuyện gì xảy ra cho con? Con trông như bà già chín mươi! Con bị bệnh nặng hả?” Và, trong sự ngạc nhiên của Sophie, Fanny quẳng nón, dù, và phong cách lịch lãm, ôm chặt lấy Sophie và khóc. “Ồ, mẹ không biết cái gì đã xảy đến cho con!” cô nức nở. “Mẹ hỏi Martha, gởi thư cho Lettie, mà không đứa nào biết cả. Chúng đổi chỗ cho nhau, mấy đứa ngốc, con biết không? Nhưng không ai biết gì về con! Mẹ còn treo một phần thưởng tìm người. Và con ở đây, làm một gia nhân, khi con có thể sống sung sướng với mẹ và ông Smith!”

Sophie thấy mình cũng nức nở theo. Cô nhanh chóng bỏ túi hành lý và dẫn Fanny đến ghế. Cô kéo ghế nhỏ ra và ngồi kế bên Fanny, nắm lấy tay mẹ. Lúc này cả hai đều vừa khóc vừa cười. Hết sức vui mừng được gặp lại đối phương.

“Chuyện này dài lắm,” Sophie nói sau khi Fanny hỏi sáu lần chuyện gì đã xảy ra cho cô. “Khi con nhìn trong gương và thấy gương mặt này, con kinh ngạc đến nỗi con phải bỏ nhà đi…”

“Làm việc quá sức,” Fanny khổ sở. “Mẹ đã tự trách mình!”

“Không phải đâu,” Sophie đáp. “Và mẹ không nên lo lắng, bởi vì Pháp sư Howl đã chứa chấp con…”

“Pháp sư Howl!” Fanny thốt. “Tên độc ác, quỷ quyệt! Gã đã biến con thế này sao? Y ở đâu? Để mẹ thanh toán hắn!”

Fanny chộp lấy cây dù và trở nên hung dữ đến nỗi Sophie phải ôm chặt lấy mẹ. Cô không muốn nghĩ đến việc Howl sẽ phản ứng thế nào nếu Fanny đánh thức anh dậy bằng cách đâm cây dù vào người anh. “Không, không!” cô nói. “Howl tốt với con lắm.” Và đó là sự thật, Sophie nhận ra. Cách Howl thể hiện lòng tốt rất kỳ lạ, nhưng, nghĩ lại những việc mà Sophie đã làm để quấy rối anh, anh thật ra đã thật tốt với cô.

“Nhưng người ta nói gã ăn thịt phụ nữ!” Fanny nói, còn đang gắng đứng lên.

Sophie giữ cây dù. “Không có đâu,” cô nói. “Nghe con đi. Anh ấy không độc ác chút nào!” Có tiếng xèo xèo trên bếp khi ấy, nơi Calcifer đang ngồi nghe chăm chú. “Thiệt mà!” Sophie nói, cho Calcifer cũng như cho Fanny. “Trong suốt thời gian con ở đây, con chưa từng thấy anh ấy làm câu thần chú hắc ám nào!” Cái này cũng là sự thật nữa, cô biết.

“Vậy là mẹ tin con,” Fanny nói, “nhưng mẹ chắc rằng nhờ con mà anh ta mới đổi tính. Con lúc nào cũng có cách hết, Sophie. Con có thể chặn cơn giận của Martha khi mà mẹ không thể làm được gì. Và mẹ luôn nói nhờ con mà Lettie chỉ bướng bỉnh được một nửa thời gian thay vì luôn luôn! Nhưng con cũng nên nói với mẹ con đã đi đâu chứ, con gái!

Sophie biết cô nên thế. Cô đã bị lời nói của Martha về Fanny ảnh hưởng, suốt cả thời gian qua, dù cô nên biết rõ Fanny hơn. Cô thật xấu hổ.

Fanny không thể chờ để nói với Sophie về ông Sacheverell Smith. Mẹ hăng hái thuật lại chuyện gặp ông Smith ngay vào tuần mà Sophie ra đi, và cưới ông ta cũng trong tuần đó. Sophie quan sát dì khi mẹ nói. Trở thành già nua đã cho cô một hướng nhìn hoàn tòan mới về Fanny. Mẹ là một người phụ nữ vẫn còn quá trẻ đẹp, và cũng thấy tiệm nón đáng chán như Sophie vậy. Nhưng mẹ bị kẹt với nó và đã cố gắng hết sức, cả với cái tiệm và với ba cô con gái – cho đến khi ông Hatter qua đời. Rồi mẹ đột nhiên cũng e sợ y như Sophie: già cả, cuộc đời không có ý nghĩa, và không có gì đáng tự hào.

“Và rồi, vì con không có ở đó để thừa hưởng, mẹ không có lý do gì để không bán cửa tiệm cả,” Fanny đang nói, thì có tiếng khua lục đục trong phòng chứa đồ.

Michael đi ra, nói, “Chúng ta đóng tiệm rồi. Nhìn xem ai ở đây nè!” Cậu đang nắm tay Martha.

Martha giờ đã gầy hơn và xinh hơn, nom như hình dạng cũ. Cô buông tay Michael ra và chạy lại Sophie, hét lên, “Chị Sophie, anh nên bảo với em!” và ôm chầm lấy cô. Rồi cô cũng choàng hai tay qua Fanny, như thể chưa bao giờ nói về mẹ.

Nhưng không phải hết. Lettie và dì Fairfax chui ra khỏi kho chứa đồ sau Martha, cả hai khệ nệ khiêng một hòm hành lý, và sao đó là Percival, trông sống động hơn lần cuối Sophie nhìn thấy. “Chúng tôi dùng chuyến xe sớm nhất đến ở bình minh,” dì Fairfax nói, “và đem theo – Ôi chúa ơi! Fanny kìa!” Dì đặt đầu hòm mây phía mình xuống và chạy lại ôm Fanny. Lettie cũng để hòm phía mình xuống và chạy lại ôm chầm Sophie.

Thực tế, có nhiều cái ôm chầm, xúyt xoa, và la hét đến nỗi Sophie nghĩ Howl không tỉnh dậy thật là một phép lạ. Nhưng cô có thể nghe tiếng ngáy của anh lẫn với những tiếng hét. Tôi sẽ phải rời khỏi buổi chiều thôi, cô tính toán. Cô quá mừng rỡ được gặp lại mọi người để mà rời khỏi.

Lettie rất mến Percival. Trong khi Michael mang cái hòm hành lý đến bàn làm việc và lấy ra gà ướp lạnh, rượu và bánh mật ong, Lettie choàng lấy cánh tay Percival trong kiểu bà chủ mà Sophie không đồng ý chút nào, và bắt anh kể tất cả những gì mà anh nhớ. Percival không có vẻ phiền lòng. Lettie nom xinh xắn đến nỗi Sophie không trách anh.

“Anh ấy chỉ đến, và cứ liên tục biến thành người, rồi thành mấy con chó khác nhau, và một mực nói rằng anh ấy biết em,” Lettie nói với Sophie. “Em biết em chưa từng thấy anh ấy bao giờ nhưng cũng không hề gì.” Cô vỗ vai Percival như thể anh vẫn còn là một con cún.

“Nhưng em có gặp Hoàng tử Justin không?” Sophie hỏi.

“Ồ, vâng,” Lettie thoải mái nói. “Chị biết đấy, ông ta hóa trang trong bộ quân phục màu xanh, nhưng rõ ràng đó là ông ta. Ông ta rất ngọt ngào và trịnh trọng, ngay cả khi rất khó chịu về những câu thần chú tìm kiếm. Em phải làm cho ổng hai lần bởi vì chúng cứ hiện Pháp sư Suliman ở nơi nào đó giữa em với Market Chipping, mà ông ấy thề rằng không phải thế. Và trong suốt thời gian em làm việc, ông ta cứ ngắt lời em, gọi em là “tiểu thư” một cách mỉa mai, và hỏi em là ai, gia đình em ở đâu, và em bao nhiêu tuổi. Em nghĩ thật vô lễ! Em thà gặp Pháp sư Howl còn hơn!”

Lúc này thì mọi người đều nhấm nháp chút gì, ăn gà và nếm rượu. Calcifer dường như mắc cỡ. Cậu ta thụp xuống chỉ còn tí tách màu xanh và không ai chú ý đến cậu. Sophie muốn cậu gặp Lettie. Cô cố dụ hỏa yêu ra.

“Có phải đó thật là cậu hỏa yêu đang nắm cuộc sống của Howl không?” Lettie hỏi, nhìn những ngọn lửa tí tách vẻ không tin tưởng.

Sophie nhìn lên để khẳng định với Lettie, chính là Calcifer, thì nhìn thấy cô Angorian đang đứng ở ngưỡng cửa, vẻ e lẹ và ngượng ngùng. “Ồ, xin lỗi. Tôi đã đến không đúng lúc?” cô Angorian nói. “Tôi chỉ muốn đến thăm Howell thôi.”

Sophie đứng dậy, không biết phái làm gì. Cô xấu hổ vì đã đuổi cô Angorian ra trước đây. Chỉ vì cô biết Howl đang theo đuổi Angorian. Mặt khác, điều đó không có nghĩa là cô phải thích cô ta.

Michael đẩy mối lo của Sophie đi bằng cách mừng cô Angorian với một nụ cười sáng rỡ và chào thật to. “Hiện giờ Howl đang ngủ,” cậu nói. “Mời chị vào và nếm một chút rượu với chúng tôi.”

“Cậu tốt quá,” cô Angorian đáp.

Nhưng thật rõ ràng là cô Angorian không vui vẻ gì. Cô không uống rượu mà đi lòng vòng ngại ngùng, miệng nhấm nháp một cái chân gà. Căn phòng đầy những người quen biết nhau và cô là người ngoài. Fanny không giúp gì bằng cách quay qua nói liên tu bất tận với dì Fairfax, không quên bình phẩm, “Quần áo kỳ lạ quá!” Martha cũng không giúp gì hết. Cô bé nhìn thấy cách Michael chào thán phục Angorian. Nên cô tìm cách không cho Michael bắt chuyện với ai hết ngoại trừ cô và Sophie. Còn Lettie thì lờ Anorian và ngồi trên cầu thang tán gẫu với Percival.

Angorian nhanh chóng quyết định là cô đã chịu quá đủ. Sophie nhìn thấy cô đến cửa, cố sức mở nó. Cô nhanh chóng bước đến gần, cảm thấy rất hối hận. Dù sao, Angorian cũng phải rất có cảm tình với Howl để đến chốn này. “Cô đừng đi,” Sophie nói. “Tôi sẽ đi đánh thức Howl dậy.”

“Ồ không, bà đừng làm thế,” Angorian nói, mỉm cười e ngại. “Hôm nay tôi được nghỉ, nên rất vui ngồi chờ. Tôi chỉ nghĩ tôi nên đi khám phá bên ngòai. Trong này khó chịu quá với cái đốm lửa xanh lè đó đang cháy.”

Đây dường như là cách hoàn hảo nhất để Sophie đuổi Angorian mà như là không đuổi. Cô lịch sự mở cánh cửa. Bằng cách nào đó – có lẽ vì những màn phòng ngự mà Howl đã bảo Michael phải nhớ - nút vặn đã quay hướng màu tím xuống. Ngoài kia là mặt trời mù sương và những dải băng hoa màu đỏ tím.

“Hoa đỗ quyên đẹp quá!” Angorian thốt lên trong giọng thánh thót nhất. “Tôi phải đi xem!” Cô hăng hái nhảy xuống thật nhanh giữa đám cỏ lầy lội.

“Đừng đi hướng đông tây,” Sophie dặn với theo.

Tòa lâu đài trôi lững lờ trên đường. Cô Angorian chúi khuôn mặt xinh đẹp vào đống hoa trắng. “Tôi không đi xa đâu,” cô nói.

“Ối thần phật!” Fanny nói, bước đến sau lưng Sophie. “Cái cỗ xe của tôi đâu rồi?”

Sophie giải thích, hết mức. Nhưng Fanny lo lắng đến nỗi Sophie phải mở cửa nút da cam xuống để chỉ cho mẹ thấy con đường ngoài sân trong một ngày xám xít hơn, nơi mà người tùy tùng và người đánh xe ngựa của Fanny đang ngồi trên mái xe ăn thịt nguội và chơi đánh bài. Chỉ khi đó Fanny mới tin là cỗ xe chưa có không cánh mà bay.Sophie cố gắng giải thích, mà cũng không hiểu rõ lắm, làm thế nào một cánh cửa có thể mở đến vài chỗ khác nhau, khi Calcifer dấy lên trên đống củi và gào.

“Howl!” hỏa yêu hét, lửa xanh bốc mù mịt lên ống khói. “Howl! Howell Jenkins, mụ phù thủy đã tìm thấy nhà chị cậu!”

Hai tiếng thùm thụmp vang trên đầu. Cửa phòng mở toang ra, và Howl chạy xồng xộc xuống cầu thang. Lettie và Percival bị đẩy ra tránh đường cho anh. Fanny hét khẽ khi trông thấy anh. Tóc Howl giống như một đống rơm và mắt hằn tia đỏ. “Tấn công chỗ xương sườn yếu nhất của ta, mụ phù thủy!” anh hét lên chạy qua căn phòng với tay áo đen bay phất phới. “Ta đã e rằng mụ sẽ làm thế! Cám ơn, Calcifer!” Anh đẩy Fanny qua một bên và vội vàng mở của.

Sophie nghe cánh cửa đập sầm phía sau Howl khi cô đi lạch bạch lên cầu thang. Cô biết như thế là đa sự, nhưng cô muốn biết chuyện gì xảy ra. Lê chân ì ạch vào phòng Howl, cô nghe tiếng mọi người đều theo sau mình.

“Phòng gì mà dơ hầy!” Fanny thốt lên.

Sophie nhìn ra ngòai cửa sổ. Trời mưa lất phất trong khu vườn. Cái xích đu ướt sũng nước đang treo lơ lửng. Mái tóc đỏ của mụ phù thủy ướt đẫm. Bà ta đứng dựa vào xích đu, cao và đầy uy quyền trong y phục đỏ rực, hai tay vẫy vẫy ra hiệu. Cháu gái của Howl, Mari, đang lê chân qua cỏ ướt về phía mụ phù thủy. Cô bé trông như là không muốn đi, nhưng dường như cô không có sự lựa chọn nào hết. Phía sau cô bé, cháu trai của Howl, Neil, cũng đang hướng về phía mụ phù thủy chậm chạp hơn, và đang quắc mắt nhìn bà ta theo kiểu hung dữ nhất của cậu. Chị của Howl, Megan, đang theo sau hai đứa nhỏ. Sophie có thể thấy cánh tay Megan vung vẩy, và miệng Megan mở ra và đóng lại. Chị rõ ràng đang la mắng mụ phù thuỷ, nhưng rồi cũng bị lôi kéo về phía bà ấy.

Howl xông vào khu vườn. Anh còn chưa chỉnh sửa lại quần áo của mình. Anh cũng không màng sử dụng ma thuật. Anh chỉ xông thẳng vào mụ phù thủy. Bà ta chộp lấy Mari, nhưng Mari vẫn còn cách quá xa. Howl chụp lấy Mari trước, đẩy bé ra sau lưng, và tiếp tục xông lên. Mụ phù thủy bỏ chạy. Mụ chạy, như con mèo đang bị con chó đuổi, ngang qua bãi cỏ, nhảyqua hàng rào, bóng áo màu đỏ phất theo như ngọn lửa, và Howl, như con chó săn, chỉ cách vài bước chân đằng sau. Mụ phù thủy biến mất sau hàng rào trong màu đỏ mờ ảo. Howl đuổi theo trong màu đen mờ ảo với tay áo phất phới. Rồi hàng rào che cả hai ra khỏi các cặp mắt theo dõi.

“Hi vọng cậu ta bắt được bà kia,” Martha nói. “Nhìn đứa bé khóc kìa.”

Phía dưới, Megan choàng tay qua Mari và dẫn hai đứa nhỏ vào nhà. Không còn cách nào biết việc gì xảy ra cho Howl và mụ phù thủy cả. Lettie, Percival, Martha và Michael đi xuống cầu thang. Fanny và dì Fairfax nhìn sững sờ và ghê tởm căn phòng của Howl.

“Coi mấy con nhện kìa!” dì Fairfax nói.

“Còn bụi trên rèm cửa này!” Fanny gật gù. “Annabel, tôi vừa thấy mấy cây chổi trong hành lang.”

“Bắt tay nào,” dì Fairfax nói. “Tôi sẽ cột áo chị lên cho, Fanny, và chúng ta sẽ làm việc. Tôi không thể nào nhìn một căn phòng trong tình trạng này!”

Ồ, Howl đáng thương! Sophie nghĩ. Anh ấy thích mấy con nhện đó lắm! Cô chạy xuống cầu thang, băn khoăn làm cách nào chặn dì Fairfax và Fanny.

Từ dưới cầu thang, Michael gọi, “Sophie! Tụi em định dạo quanh biệt thự. Chị đi không?”

Đó là một ý kiến tốt để ngăn hai bà dì khỏi việc dọn dẹp. Sophie gọi Fanny và lạch bạch xuống cầu thang. Lettie và Percival đã mở cửa sẵn. Lettie đã không nghe gì khi Sophie giải thích cho Fanny. Và rõ ràng là Percival cũng chẳng hiểu gì luôn. Sophie nhìn thấy họ đang mở cửa với nút vặn màu tím xuống. Cánh cửa đã mở khi Sophie lạch bạch qua phòng để sửa lại.

Con bù nhìn xuất hiện trên ngạch cửa đối diện những cánh hoa.

“Đóng lại!” Sophie hét lên. Cô hiểu ngay chuyện gì xảy ra. Cô đã giúp bù nhìn chiều hôm qua khi bảo nó đi nhanh hơn gấp mười lần. Nó đơn giản chỉ chạy thẳng đến cửa lâu đài và cố sức đi vào. Nhưng cô Angorian đang ở ngoài đó. Sophie băn khoăn không biết cô có đang nằm ngất xỉu trong bụi cây nào không. “Không, đừng,” cô nói yếu ớt.
Dù sao cũng không ai chú ý gì đến cô cả. Khuôn mặt Lettie trắng như màu áo Fanny, và tay cô đang níu chặt lấy Martha. Percival đang đứng nhìn chăm chăm, và Michael đang cố chụp lấy cái đầu lâu, hàm răng nó đang va vào nhau lộp cộp đến nỗi muốn rơi xuống đất và kéo theo cái chai rượu. Và đầu lâu dường như cũng có ảnh hưởng kì lạ đến cây đàn. Nó bật ra những âm thanh dài: Noumm Harrummm! Noumm Harrumm!

Calcifer vụt cháy cao lên ống khói. “Nó đang nói chuyện,” cậu ta bảo Sophie. “Nó nói là không có ý xấu. Tôi nghĩ nó nói thật đó. Nó xin cô cho phép nó vào.”

Tất nhiên bù nhìn chỉ đứng ở ngòai. Nó không cố xông vào bên trong như lần trước. Và Calcifer hẳn tin nó. Hỏa yêu cho ã ngừng tòa lâu đài lại. Sophie nhìn khuôn mặt củ cải và tay áo rách nát. Nó không có vẻ hung dữ chút nào. Đã có lần cô còn đồng cảm với nó. Cô ngờ rằng mình chỉ tìm một lý do chính đáng để khỏi rời tòa lâu đài bởi vì thật ra cô muốn ở lại. Bây giờ thì không còn lý do nào nữa. Sophie dù sao vẫn phải ra đi: Howl thích Angorian hơn.

“Mời vào,” cô nói, giọng khàn đi.

“Ahmmnng!” cây đàn vang lên. Bù nhìn nhảy vọt một bước vào gian phòng. Nó đứng lắc lư một chân như thể đang tìm kiếm vật gì. Mùi hoa bay vào cũng không giấu nổi mùi hôi của gió bụi và bắp cải thối từ người nó bốc ra.

Cái đầu lâu lại đập răng trong tay Michael nữa. Bù nhìn quay lại, vui sướng, và ngã về hướng đó. Michael cố cứu cái đầu lâu lần nữa nhưng rồi nhanh chóng lùi lại. Bởi vì khi bù nhìn ngã xuống bàn làm việc, một tia sáng ma thuật mạnh mẽ phát ra và đầu lâu nhập vào cái đầu cải của nó thành một. Dường như nó chạy vào trong bắp cải và đã thay thế phần trống rỗng bên trong. Giờ đây gần như có một khuôn mặt xương xương trong cải bắp. Vấn đề là, nó nằm trên lưng bù nhìn. Chú bù nhìn loạng choạng đứng dậy, nhảy cho thật thẳng, và rồi nhanh chóng xoay mình để khuôn mặt quay ra đằng trước. Nó chầm chập thả hai cánh tay dang ra xuống.

“Giờ tôi nói được rồi,” nó nói yếu ớt.

“Tôi ngất đi mất,” Fanny thốt, trên cầu thang.

“Thôi nào,” dì Fairfax nói, sau lưng Fanny. “Nó chỉ là một hình nhân của pháp sư nào đó. Nó phải thực hiện nhiệm vụ của mình. Chúng khá là vô hại.”

Lettie, cũng thế, nhìn như sắp ngất dến nơi. Nhưng một người thật sự ngất xỉu là Percival. Anh ngã vật ra sàn, nhẹ nhàng, và nằm co lại như thể đang ngủ. Lettie, mặc kệ đang rất hoảng loạn, chạy đến bên anh, nhưng cô lùi lại khi con bù nhìn nhảy một cái và đứng trước mặt Percival.

“Đây là một trong những bộ phận mà tôi phải đi tìm,” nó nói giọng yếu ớt. Nó xoay người lại trên cây gậy để đối mặt với Sophie. “Tôi phải cám ơn bà,” nó nói. “Sọ của tôi ở nơi xa và tôi mất hết sức lực trước khi tôi đến được. Tôi sẽ phải nằm trong bụi cây suốt đời nếu bà không đến và nói chuyện cho tôi cuộc sống.” Nó quay sang dì Fairfax và rồi đến Lettie. “Tôi cũng phải cám ơn hai người,” nó nói.

“Ai gởi mi đến? Mi định làm gì?” Sophie nói.

Con bù nhìn lắc lư. “Nhiều hơn nữa,” nó nói. “Vẫn còn nhiều phần bị mất tích.” Mọi người chờ đợi, hầu hết đều run rẩy không nói nên lời, trong khi con bù nhìn xoay qua xoay lại, dường như đang nghĩ ngợi.

“Percival là bộ phận của cái gì?” Sophie hỏi.

“Để tự nó gom lại đi,” Calcifer nói. “Không ai bảo nó phải tự giải thích bao g…” Hỏa yêu đột nhiên im bặt, và thu nhỏ lại cho đến khi chỉ con một ngọn lửa xanh lè loe loét sáng. Michael và Sophie nhìn nhau nghi ngờ.

Rồi một giọng nói cất lên trong không gian. Nó được phóng lớn lên và như bị chặn lại như thể đang phát ra từ trong một cái hộp, nhưng không nghi ngờ gì là tiếng của mụ phù thủy. “Michael Fisher,” nó nói, “bảo với chủ ngươi, Howl, là y đã rơi vào bẫy của ta. Ta đã bắt được một phụ nữ tên là Lily Angorian trong pháo đài ở vùng Hoang phế. Nói với y ta sẽ chỉ thả cô ta nếu y tự mình đến đây. Hiểu chưa hả, Michael Fisher?”

Bù nhìn quay lại và nhảy đến bên cửa.

“Ồ không!” Michael hét lên. “Chặn nó lại! Mụ phù thủy hẳn đã gởi nó đến đây để bà ta có thể vào nhà!”


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

erilx
avatar

Sex Sex : Nữ
Posts Posts : 391
Tiền Tiền : 9012
Thanks Thanks : 24

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle Sat May 15, 2010 5:32 pm

http://crystal-hearts.forumvi.net


Chương 21
Hợp đồng kết thúc trước nhiều nhân chứng



Hầu hết mọi người đều chạy theo chú bù nhìn. Sophie chạy theo hướng ngược lại, qua phòng chứa đồ và vào trong cửa tiệm, tay quơ quào lấy cây gậy.

“Đây là lỗi của mình!” cô tự nhủ. “Thiên tài gây rắc rối! Mình nên giữ Angorian trong nhà. Chỉ cần lịch sự nói chuyện với cô ấy, cô gái đáng thương! Howl có thể tha thứ cho mình rất nhiều chuyện, nhưng anh ấy sẽ không tha thứ chuyện này!”

Trong tiệm hoa cô chộp lấy đôi hia bảy dặm ra khỏi cửa sổ trưng bày và giũ hoa dâm bụt, hoa hồng và nước bên trong xuống sàn. Cô mở cửa tiệm, xách đôi hia ướt ra ngoài lề đường chật cứng người. “Xin thứ lỗi,” cô nói với những đôi giày và tay áo phất phơ đang ngáng đường mình. Cô nhìn mặt trời, không dễ tìm chút nào khi nó đã bị đám mây xám xịt che khuất. “Xem nào. Đông nam. Hướng đó. Xin thứ lỗi, xin thứ lỗi,” cô luôn miệng rối rít, dạt một khoảng trống nhỏ cho đôi giày đứng giữa đám người dự lễ hỗi. Cô đặt chúng xuống đất về hướng cần thiết. Rồi Sophie xỏ chân vào và bắt đầu cất bước.

Zip-zip, zip-zip, zip-zip, zip-zip, zip-zip, zip-zip, zip-zip. Cứ nhanh như thế, sự vật còn mờ ảo và đáng sợ trong hai đôi hia hơn là trong một chiếc. Sophie nhìn thấy hình ảnh lướt qua giữa những bước dài: ngôi biệt thự ở cuối thung lũng, thấp thoáng giữa hàng cây, với cỗ xe của Fanny dừng ở cửa; khu rừng dương xỉ trên đồi, dòng suối nhỏ chảy xuống thung lũng xanh; lại chính dòng sông đó chảy vào thung lũng rộng lớn hơn; thung lũng đó trở nên rộng lớn vô cùng, mênh mông xanh biếc từ xa, và một đống cao ngất tít tắp có thể là Kingsbury; đồng cỏ trở nên hẹp hơn vào sâu vào núi; một dốc nghiêng đến nỗi chân cô vấp ngã mặc dù đã có cây gậy chống, cô trượt đến mép một khe núi đầy sương mù sâu, tàng lá của rừng cây nằm phía dưới, cô phải cất một bước nữa để không bị rơi vào đó.

Cuối cùng cô đến một bãi cát vàng khô. Sophie chống cây gậy sâu vào đất và cẩn thận nhìn xung quanh. Phía sau vai phải của cô, hàng dặm xa, là một làn sương mù trắng gần như che dấu dãy núi cô vừa lướt qua. Mờ mờ trong làn sương mù là một màu xanh đậm. Sophie gật đầu. Mặc dù không thể trông thấy tòa lâu đài biết đi ở nơi đây, cô chắc rằng sương mù đánh dấu nơi trồng hoa. Cô cẩn thận cất bước. Zip. Không khí thật nóng bức. Cát vàng khô trải khắp mọi nơi, bốc hơi nhiệt nghi ngút. Vài tảng đá nằm lộn xộn khắp nơi. Loại cây duy nhất hiện hữu là vài bụi cỏ màu xám rải rác. Dãy núi trông như đám mây ở đường chân trời.

“Nếu đây là vùng hoang phế,” Sophie thốt, với mồ hôi túa ra từ những nếp nhăn, “vậy thì ta thấy tội nghiệp cho mụ phù thuỷ phải sống ở đây.”

Cô cất một bước nữa. Làn gió không làm mát hơn chút nào. Những hòn đá và bụi cỏ cũng trông như thế, nhưng dãy cát đã thành xám hơn, và dãy núi dường như bị nhấn chìm trong bầu trời. Sophie chăm chú nhìn vào vùng sáng chói lòa màu xám ở phía trước, cô nghĩ mình nhìn thấy cái gì đó cao hơn đá ở phía trước. Sophie bước thêm một bước nữa.

Giờ thì không khí như ở trong lò nướng. Nhưng có một đống hình dáng kì lạ khoảng một phần tư dặm ở phía trước, đứng ngất ngưỡng trong vùng đất đầy đá sỏi. Nó mang hình dạng của những chòi tháp nhỏ uốn cong, nhóm vào tòa lầu chính chỉa lên nghiêng nghiêng, như một ngón tay xương xẩu già nua. Sophie leo ra khỏi đôi hia. Trời quá nóng để mang theo một vật nặng như thế, nên cô đi bộ thám hiểm chỉ với cây gậy của mình.

Vật khổng lồ đó dường như làm bằng mảnh đất vàng-nâu của vùng Hoang phế. Lúc đầu Sophie băn khoăn không biết nó có phải là một loại tổ kiến kỳ lạ hay không. Nhưng khi đến gần, cô nhận thấy giống như một cái gì đó đã nung chảy hàng ngàn chậu đất sét vàng vào thành một chồng đất cao. Sophie nhăn răng. Tòa lâu đài biết đi thường làm cô cảm tưởng y như phần bên trong của một ống khói. Tòa tháp này lại là sự kết hợp của những chậu đất nung. Nhất định là một tác phẩm của một con hỏa yêu.

Khi Sophie thở hồng hộc trên đỉnh, không còn nghi ngờ gì đây là pháo đài của mụ phù thủy. Hai hình dáng màu cam bé nhỏ bước ra khỏi khoảng trống đen phía dưới và đứng đợi cô. Sophie nhận ra hai tiểu đồng của mụ phù thủy. Mặc dù nóng bức và hết hơi, cô vẫn cố nói chuyện lịch sự với chúng, để cho chúng thấy cô không có ý xấu. “Xin chào,” cô nói.

Chúng chỉ dàu dàu nhìn cô. Một đứa cúi chào và đưa tay ra, chỉ vào vòm tối dị hình giữa những cây cột ống khói xiêu vẹo. Sophie nhún vai và theo cậu ta vào. Một cậu tiểu đồng kia đi sau cô. Và dĩ nhiên cánh cổng biến mất khi cô bước qua. Sophie lại nhún vai. Cô sẽ phải đối phó với chuyện đó khi quay trở lại.

Cô kéo áo choàng lại, vuốt nếp chiếc váy dài, và bước thẳng tiến. Cứ như là bước qua cánh cổng lâu đài với nút vặn màu đen xuống. Có một giây của hư không, sau đó là ánh sáng nhờ nhờ. Ánh sáng phát ra từ những ngọn lửa vàng xanh cháy loe loét xung quanh, nhưng theo cách u tối, không tỏa nhiệt và rất ít ánh sáng. Khi Sophie nhìn kỹ, những ngọn lửa không bao giờ thẳng nơi cô nhìn, mà lúc nào cũng ở bên cạnh. Nhưng tất nhiên đó là ma thuật. Sophie nhún vài lần nữa và cứ theo tên tiểu đồng ngoằn nghèo qua những cây cột cao nhỏ làm bằng cột ống khói to như cả tòa nhà.

Cuối cùng hai cậu bé dẫn cô vào một loại hang trung tâm. Hay có lẽ chỉ là khoảng trống giữa các cây cột. Lúc này Sophie quá hoang mang. Tòa pháo đài dường như quá khổng lồ, dù cô đoán rằng có lẽ nó chỉ là ảo tượng, cũng như lâu đài biết đi. Mụ phù thuỷ đứng ở đó chờ đợi. Lần này, thật khó mà nói rằng làm sao mà Sophie biết được – trừ việc tất nhiên là còn ai vào đấy nữa. Mụ phù thủy giờ đây cao và gầy, mái tóc óng ả cột thành một búi thả qua một bờ vai gầy. Cô ta bận áo trắng. Khi Sophie bước thẳng đến cô ta, tay vung vẩy cây gậy, phù thủy lùi lại.

“Ta không dễ hù đâu!” mụ phù thủy nói, vẻ mệt mỏi và yếu ớt.

“Vậy thì trả cô Angorian lại đây và ngươi sẽ không có gì,” Sophie đáp. “Ta sẽ mang cô ấy đi.”

Mụ phù thủy lùi lại xa hơn, cánh tay hươ lên. Hai cậu tiểu đồng đột nhiên tan chảy thành đống chât dẻo màu cam bay là đà trong không khí về hướng Sophie. “Yucky! Tránh ra!” Sophie hét, lấy cây gậy đập chúng. Chất dẻo màu cam dường như sợ cây gậy. Chúng né tránh và quay một vòng, luồn ra phía sau Sophie. Cô vừa nghĩ chiến thắng thì nhận ra mình bị chúng dán chặt vào một cây cột ống khói. Chất dính màu cam xiết chặt cổ chân cô khi cô cựa quậy và giật mạnh tóc thật đau.

“Thà có nhớt xanh thì hơn!” Sophie nói. “Chúng không phải là người thật chứ.”

“Chỉ là ảo tượng,” mụ phù thủy nói.

“Thả tôi ra,” Sophie nói.

“Không,” mụ phù thủy đáp. Cô ta quay đi và dường như hoàn tòan quên mất Sophie.

Sophie bắt đầu sợ rằng, như thường lệ, cô đã làm mọi thứ rối tung lên cả. Chất nhựa dính dường nhưng càng cứng và dẻo hơn mỗi giây phú trôi qua. Khi cô cố nhúc nhích, nó kéo cô bật trở lại cây cột. “Tiểu thư Angorian ở đâu?” cô hỏi.

“Cô không tìm thấy cô ta đâu,” mụ phù thủy nói. “Chúng ta sẽ đợi Howl đến.”

“Anh ta không đến đâu,” Sophie đáp. “Anh ta biết suy nghĩ hơn. Và lời nguyền của cô cũng chưa hết mà.”

“Mau thôi,” mụ phù thủy đáp, mỉm cười. “Bây giờ cô đã bị chúng ta lừa và đến đây. Howl lần này sẽ phải thành thật.” Cô ta vẫy tay, lần này về phía ngọn lửa, một cái ngai trôi ra giữa hai cây cột và ngừng trước mặt mụ phù thủy. Trên ngai là một người đàn ông đang ngồi, y bận một bộ quân phục màu xanh, đôi giày sáng bóng. Lúc đầu Sophie tưởng ông ta đang ngủ, đầu nghẹo sang một bên ra khỏi tầm nhìn. Nhưng mụ phù thủy lại phất tay. Người ấy ngồi thẳng lên. Và anh ta không có đầu trên vai. Sophie nhận ra cô đang nhìn thấy phần thân thể của Hoàng tử Justin.

“Nếu ta là Fanny,” Sophie nói, “Tôi sẽ dọa ngất đi mất. Đặt đầu trở lại đi! Ông ấy nhìn kinh quá!”

“Ta đã quẳng hai cái đầu đi vài tháng trước rồi,” mụ phù thủy thờ ơ đáp. “Tôi đã bán đầu lâu của pháp sư Suliman cùng lúc với cây guitar của y. Đầu của Justin thì đang đi đâu đó với phần rác rưởi còn lại. Cái thân thể này là hỗn hợp hoàn hảo của Hoàng tử Justin và Pháp sư Suliman. Nó đang đợi đầu của Howl, để làm thành một người hoàn hảo. Khi có đầu Howl rồi, ta sẽ có vị vua mới của Ingary, và ta sẽ làm hoàng hậu.”

“Bà điên rồi!” Sophie nói. “Bà không có quyền chơi ghép người ta lại như thế! Mà tôi nghĩ đầu của Howl cũng không thèm nghe lời bà đâu. Nó sẽ tìm cách chuồn đi cho coi.”

“Howl sẽ làm chính xác những điều ta muốn,” mụ phù thủy nói với nụ cười bí ẩn trên mặt. “Chúng ta sẽ chiếm đoạt con hỏa yêu của hắn.”

Sophie nhận ra cô đang rất sợ hãi. Cô biết mình lại làm mọi thứ rối tung lên nữa. “Angorian đang ở đâu?” cô nói, lắc lắc cây gậy.

Mụ phù thủy không thích Sophie vung vẩy cây cậy. Bà ta bước lùi lại. “Ta đã mệt rồi,” bà nói. “Các người cứ phá hủy kế hoạch của ta. Đầu tiên là Pháp sư Suliman không chịu đến gần vùng Hoang Phế, nên ta phải hăm dọa công chúa Valeri để cho Đức Vua lệnh cho hắn tới đây. Tới khi hắn đến, hắn lại đi trồng đám hoa đó. Rồi lại tới mấy tháng liền Đức Vua không cho Hoàng tử Justin theo Suliman, và đến khi anh ta quyết định đi, thì thằng ngốc lại cứ ngược lên phía bắc vì lý do nào đó, làm ta phải trổ hết ma thuật để kéo hắn về đây. Howl gây rắc rối cho ta nhiều hơn cả. Y đã thoát được một lần. Ta phải dùng lời nguyền để lôi hắn về đây. Còn cô thì lại tìm được phần còn sót của đầu Suliman, vung vẩy cây gậy, và đến đây tranh cãi với ta. Ta đã cố hết sức mới được giây phút này, và sẽ không cho phép ai cãi lại ta.” Bà phù thủy quay đi và biến vào trong bóng tối.

Sophie nhìn theo hình bóng cao màu trắng đang đi trong ánh lửa mờ mờ. Ta nghĩ là tuổi bà ta cũng đã ảnh hưởng đến đầu bà ấy rồi! cô nghĩ. Thiệt là điên mà! Mình phải chạy trốn và giải thoát cô Angorian mới được! Sực nhớ chất dẻo màu cam đã tránh cây gậy của cô, như là mụ phù thủy, Sophie thò cây gậy ra sau lưng và quẹt qua quẹt lại nơi chất dẻo đang dính vào cột. “Tránh ra đi!” cô hét. “Thả ta ra!” Tóc cô bị kéo lại rất đau, nhưng dân dần các chất màu cam cũng buông lỏng ra và bay sang hai bên. Sophie vẩy cây gậy nhanh hơn.

Đầu và vai cô vừa được thả ra thì một tiếng bùm chát chúa vang lên. Những ngọn lửa lạnh lẽo run rẩy và cây cột đằng sau Sophie lắc mạnh. Sau đó, một âm thanh chát chúa như hàng ngàn tách trà rớt xuống cầu thang vang lên, mảnh tường của pháo đài bị nổ tung. Ánh sáng mặt trời chói chang xuyên qua một cái lỗ dài nhăn nhở rọi vào bên trong, và một hình bóng nhảy xuống. Sophie quay lại nhanh chóng, hi vọng đó là Howl. Nhưng hình đen chỉ có một chân. Đó là chú bù nhìn.

Mụ phù thủy thét lên một tiếng giận dữ và xông vào nó, mái tóc cột tung bay và hai cánh tay gầy gò giơ ra. Chú bù nhìn nhảy đến bên bà ta. Một tiếng bang dữ dội phát ra và cả hai bị cuốn vào trong đám mây ma thuật, như đám mây ở Porthaven khi Howl và mụ phù thủy đánh nhau. Đám mây bay qua bay lại, trong không khí đầy bụi đó vang lên tiếng hét rú rít và nổ ầm ầm. Tóc của Sophie cháy xém. Đám mây chỉ cách cô có vài thước, bay qua bay lại giữa những cây cột đất nung.

Và lỗ hổng trong tường cũng khá gần. Như Sophie đã nghĩ, tòa pháo đài không thật sự to lớn. Mỗi lần đám mây đi qua khoảng trống màu trắng sáng loái, cô có thể nhìn xuyên qua nó, và nhìn thấy hai hình dáng gầy dò đang chiến đấu bên trong. Cô nhìn chăm chăm, tay vẫn khua khua cây gậy phía sau lưng.

Cô đã được thả ra ngoại trừ nơi chân khi đám mây rống rít qua trước vùng sáng một lần nữa. Sophie nhìn thấy một người khác nhảy xuống lỗ hổng. Lần này người ấy có cánh tay áo đen bay bay phất phới. Đó là Howl. Sophie có thể nhìn thấy hình dáng của anh rõ ràng, đứng đó khoanh tay, nhìn trận đánh. Trong một phút giây tưởng như anh sẽ để mụ phù thủy và bù nhìn đánh nhau như thế. Rồi hai cánh tay áo lại bay phần phật khi Howl giơ cánh tay lên. Giữa tiếng la hét, tiếng nổ ầm ầm, Howl hét lên một từ kỳ lạ, dài ngoằng, và kéo theo là tiếng sấm sét. Cả bù nhìn và mụ phù thủy giật mình. Âm thanh vang vọng qua những cột đất sét, âm này nối sau âm khác, và mỗi tiếng vang mang đi một chút của đám mây ma thuật. Nó hóa thành lọn khói nhỏ, cuốn tròn và biến đi trong làm sương mù mịt. Khi nó trở thành loại sương trắng mỏng nhất, thân hình cao lớn với bím tóc bắt đầu loạng choạng. Mụ phù thủy dường như nhỏ lại, ốm hơn và trắng bệch hơn bao giờ hết. Cuối cùng, làn sương cuối cùng biến mất hoàn toàn, mụ rơi xuống thành một đống cát trong tiếng động loảng xoảng nhỏ. Khi một triệu âm vang đã mất đi, Howl và bù nhìn đứng đó nhìn nhau nghĩ ngợi trước đống xương tàn.

Tốt! Sophie nghĩ. Cô quẹt cây gậy qua chân để giải thoát và bước đến thân hình không đầu trên ngai. Nó làm cô bực bội hết sức.

“Không đâu anh bạn,” Howl nói với chú bù nhìn. Bù nhìn đang nhảy vào trong đám xương và dùng một chân hất tung ra. “Không, anh không tìm thấy tim bà ta ở đây đâu. Hỏa yêu của bà ta đã giữ nó rồi. Tôi nghĩ nó đã nắm cán của bà ấy từ lâu rồi. Đáng buồn.” Sophie cởi áo choàng, và đắp cẩn thận lên bờ vai không đầu của Hoàng tử Justin, Howl tiếp, “Tôi nghĩ phần còn lại anh đang tìm ở bên đây nè.” Anh bước đến ngai, với chú bù nhìn nhảy sau lưng. “Y như rằngl!” anh nói với Sophie. “Tôi thì chạy hộc tốc đến đây, và tìm thấy cô đang dọn dẹp an lành!”

Sophie nhìn anh. Như cô đã e sợ, ánh sáng đen trắng xuyên qua bức tường vỡ cho cô thấy Howl đã không thèm cạo hay chải tóc. Mắt vẫn còn hằn vệt đỏ và tay áo đen đã bị rách vài chỗ. Không khác gì mấy với chú bù nhìn. Ôi! Sophie nghĩ. Anh phải thật tình yêu cô Angorian nhiều lắm, “Tôi đến cứu cô Angorian,” cô giải thích.

“Và tôi nghĩ nếu sắp xếp để gia đình cô đến thăm, thì cô sẽ ở yên được một chút!” Howl nói châm chọc. “Nhưng không…”

Đến đây thì chú bù nhìn nhảy đến trước mặt Sophie. “Tôi được pháp sư Suliman sai khiến,” nó kể giọng nhừa nhựa. “Tôi đang canh gác các bụi cây khỏi các con chim trong vùng Hoang phế thì bà phù thủy bắt được ông ta. Ông ấy truyền tất cả pháp thuật còn lại lên mình tôi, và bảo tôi phải đi cứu ông ấy. Nhưng đến lúc đó thì mụ phù thủy đã cắt rời ông ấy ra, và rải những mảnh thân thể ở nhiều chỗ khác nhau. Nó là một nhiệm vụ khó khăn. Nếu bà không đến và nói cho tôi sự sống, tôi đã thất bại rồi.”

Nó trả lời tất cả mọi câu hỏi mà Sophie hỏi trứơc khi họ bị tách rời.

“Vậy khi Hoàng tử Justin ra lệnh cho mấy bùa chú tìm người, bọn họ chỉ về phía ngươi,” cô nói. “Tại sao vậy?’

“Đến tôi hay là đầu lâu của ông ta,” bù nhìn trả lời. “Hai chúng tôi là phần tốt đẹp nhất của anh ấy.”

“Và Percival là tổng hợp của pháp sư Suliman và hoàng tử Justin?” Sophie nói. Cô không chắc Lettie sẽ thích điều này.

Bù nhìn gật cái đầu bắp cải. “Hai phần thân đó bảo tôi là mụ phù thủy và hỏa yêu của mụ không còn ở chung với nhau và tôi có thể một mình đánh bại mụ phù thủy,” nó nói. “Cám ơn bà đã cho tôi tốc độ nhanh gấp mười lần bình thường.”

Howl vẫy nó. “Khiêng cái thân thể đó về lâu đài,” anh nói. “Ta sẽ nhập các người lại ở đó. Sophie và tôi phải trở về trước khi tên hỏa yêu kia tìm được cách vào trong lớp ngăn chặn của ta.” Anh nắm lấy cổ tay gầy gò của Sophie. “Nhanh lên. Đôi hia bảy dặm đâu rồi?”

Sophie kéo lại. “Nhưng cô Angorian…!”

“Cô còn không hiểu sao?” Howl nói, tay vẫn kéo cô theo. “Angorian chính là hỏa yêu. Nếu nó vào trong lâu đài, vậy là Calcifer tiêu và tôi cũng thế!”

Sophie đặt hai tay lên miệng. “Tôi biết tôi đã gây rắc rối mà!” cô nói. “Nó đã vào trong hai lần rồi. Nhưng cô ấy – nó lại đi ra.”

“Ồ chúa ôi!” Howl rên rỉ. “Nó có chạm tay vào cái gì không?”

“Cây đàn guitar,” Sophie thú nhận.

“Vậy thì nó vẫn còn trong đó,” Howl nói. “Nhanh lên!” Anh kéo Sophie qua bức tường vỡ. “Cẩn thận theo sau tôi đó,” anh hét lớn với bù nhìn. “Tôi sẽ phải gọi gió! Không còn giờ để tìm đôi hia nữa,” anh nói với Sophie khi họ trèo qua đống gạch lởm chởm đến ánh nắng chói chang bên ngoài. “Chạy đi. Và thật nhanh, nếu không tôi không kéo cô được.”

Sophie chống gậy bước đi và chập choạng chạy, vấp váp giữa những viên đá. Howl chạy kế bên cô, kéo cô théo. Cơn gió nổi lên, thổi rì rào, rồi ào ào, nóng hổi và bụi bặm, cát xám tung mù mịt quanh họ thành một cơn gió lốc ngay trên tòa pháo đài đất nung. Khi đó thì bọn họ không chạy nữa, mà lướt đến phía trước như đang nhảy những bước nhảy thật chậm. Cát khô lướt qua vùn vụt dưới chân. Bụi đất và sỏi nhỏ bay vèo vèo xung quanh hai người, trên đầu và đằng sau. Xung quanh rất ồn ào và không thoải mái chút nào cả, nhưng vùng Hoang phế nhanh chóng bị bỏ lại phía sau.

“Không phải lỗi của Calcifer đâu!” Sophie hét to. “Tôi bảo cậu ấy đừng nói.”

“Dù sao cậu ta cũng không nói gì đâu,” Howl hét đáp lại. “Tôi biết cậu ta không bao giờ chỉ điểm một hỏa yêu khác. Cậu ấy là đúng là xương sườn yếu nhất của tôi.”

“Tôi tưởng Wales mới là xương sườn yếu nhất!” Sophie hét.

“Không! Tôi cố tình bỏ trống chỗ đó!” Howl lớn giọng. “Tôi biết mình sẽ nổi giận đủ để chặn bà ta lại nếu bà ấy tấn công chỗ đó. Tôi phải chừa một con đường cho bà ta, hiểu không? Cơ hội duy nhất đến gần Hoàng tử Justin là dùng lời nguyền bà ta đặt lên tôi để đến gần bà ta.”

“Vậy là anh định giải cứu Hoàng tử!” Sophie la. “Tại sao anh lại giả vờ chạy trốn? Để gạt bà phù thủy hả?

“Không hẳn thế!” Howl hét. “Tôi chết nhát lắm. Cách duy nhất để tôi làm việc kinh khủng này là tự nói với mình là tôi sẽ không làm thế!”

Ồ không! Sophie nghĩ, nhìn quanh vào đám cát bụi mịt mù. Anh ta đang thành thật! Và đây là một ngọn gió. Phần cuối của lời nguyền đã thành sự thật!

Luồng gió cát đập vào cô như sấm sét và tay Howl nắm chặt đau đớn. “Chạy nhanh lên!” Howl oang oang. “Cô sẽ bị thương ở tốc độ này!” Sophie hết hồn và đạp chân thật mạnh. Cô có thể nhìn thấy dãy núi rõ ràng hơn và một đường xanh phía dưới là bụi cỏ hoa. Mặc dù cát vàng vẫn quay vòng xung quanh, dãy núi dường như lớn hơn và đường xanh xông đến họ cho đến khi nó cao bằng hàng rào. “Tất cả xương sườn nào của tôi cũng yếu hết!” Howl la lên. “Tôi đã ỷ y vào việc Suliman vẫn còn sống. Sau đó khi tất cả phần còn lại của anh ta là Percival, tôi sợ đến nỗi tôi phải ra ngòai uống cho say. Rồi cô lại đi nhảy vào vòng tay của bà phù thủy!”

“Tôi là chị cả!” Sophie rên. “Phải chịu thất bại là tất nhiên mà!”

“Không đúng!” Howl hét. “Cô chỉ không suy nghĩ thôi!” Chân Howl bước chậm lại. Bụi tung bay quanh họ thành một đám mây. Sophie chỉ biết các bụi cây khá gần vì cô có thể nghe tiếng rì rào của gió cát đập vào lá. Họ đâm sầm vào đám lá cây, vẫn với tốc độ nhanh đến nỗi Howl phải trượt đi và kéo Sophie theo thành một đường mỏng dài trên mặt hồ. “Mà cô hiền quá đi,” anh thêm, giữa tiếng vỗ nhè nhẹ của nước và tiếng lộp độp của cát rơi trên lá hoa súng. “Tôi đã ỷ y vào việc cô sẽ ghen đủ để không cho hỏa yêu lại gần.”

Bọn họ chạy chầm chậm đến bờ hồ nóng bỏng. Bụi cỏ hai bên đường bị kéo lên dập xuống khi họ đi qua, ném chim chóc và cánh hoa vào một cơn gió lốc sau lưng họ. Tòa lâu đài trôi nhanh xuống con đường cỏ về phía hai người, luồng khói thổi bạt ra sau. Howl giảm tốc đủ để bật mở cánh cửa, đẩy anh và Sophie vào bên trong.

“Michael!” anh hét.

“Em không phải người để con bù nhìn vào đâu!” Michael nói hối lỗi.

Mọi việc dường như bình thường. Sophie ngạc nhiên khám phá ra cô chỉ vừa mới đi một khoảng thời gian rất ngắn. Ai đó đã kéo giường cô dưới gầm cầu thang ra và đặt Percival nằm trên đó, anh ta vẫn mê man bất tỉnh, Lettie, Martha và Michael đứng xung quanh. Trên lầu, Sophie có thể nghe tiếng dì Fairfax và dì Fanny, kết hợp với tiếng ầm ầm vào xào xạc của cái chổi báo hiệu những con nhện của Howl đang gặp đại nạn.

Howl thả Sophie ra và nhảy đến cây guitar. Trước khi anh bắt được, nó bật ra một tiếng boom dài chát chúa. Dây đàn đứt rung. Mảnh gỗ vỡ bắn vào người Howl. Anh buộc phải lùi lại, một tay áo rách che ngang mặt.

Và cô Angorian đột nhiên đứng bên cạnh lò sưởi, miệng mỉm cười. Howl đã nói đúng. Ả đã ở trong cây guitar suốt thời gian qua, chờ đợi giờ phút xuất hiện.

“Mụ phù thủy đã chết rồi,” Howl nói.

“Tội nghiệp ghê không!” cô Angorian nói, hoàn tòan không màng tới. “Giờ ta có thể tạo một người còn tốt hơn nữa. Lời nguyền đã hoàn chỉnh rồi. Ta có thể lấy tim ngươi bây giờ.” Và cô ta xúc tay vào trong bếp và ngắt Calcifer ra. Calcifer run rẩy trên bàn tay cô ta, vẻ mặt hoảng sợ. “Không ai được cử động,” Angorian cảnh cáo.

Không ai dám di chuyển. Howl đứng yên nhất. “Cứu!” Calcifer nói yếu ớt.

“Không ai giúp ngươi đâu,” Angorian nói. “Ngươi sẽ giúp ta điều khiển con người mới. Để ta chỉ cho ngươi. Ta chỉ phải nắm chặt tay lại.” Bàn tay cô đang giữ Calcifer bóp lại đến khi các đốt tay vàng bệch ra.

Howl và Calcifer đều hét lên. Calcifer lắc lư đau đớn. Mặt Howl xanh xao và anh ngã vật ra sàn nhà như cây đổ, nằm mê man bất tỉnh như Percival. Sophie không nghĩ là anh còn thở.

Angorian kinh ngạc. Ả nhìn chằm chằm vào Howl. “Y chỉ giả bộ,” cô ta nói.

“Không phải!” Calcifer hét, thân hình quằn quại. “Tim y yếu lắm! Buông ra!”

Sophie chầm chậm và nhẹ nhàng nâng cây gậy lên. Lần này cô nghĩ một giây truớc khi làm. “Gậy ơi,” cô thì thầm. “Đánh Angorian, nhưng đừng tổn thương ai nữa cả.” Rồi cô dùng hết sức quật cây gậy vào các đốt tay đang nắm chặt của Angorian.

Cô Angorian ré lên một tiếng rít như tiếng cháy xèo của tấm gỗ ẩm ướt và thả Calcifer ra. Calcifer đáng thương lăn lộn bất lực trên sàn, cháy xém gạch lót sàn và gào rền rĩ suýt soa kinh hoảng. Angorian giơ một chân lên đạp. Sophie phải thả cây gậy ra và nhào xuống cứu Calcifer. Cây gậy, trước sự ngạc nhiên của cô, vẫn tiếp tục đánh Angorian. Nhưng dĩ nhiên rồi! Sophie nghĩ. Cô đã dùng lời nói biến nó thành vật sống. Bà Pentstemmon đã bảo như thế.

Cô Angorian rít lên và loạng choạng lùi lại. Sophie đứng dậy, tay giữ Calcifer, cô nhìn thấy cây gập vẫn hăng say đánh vào người ả hỏa yêu đến nỗi tóe cả khói. Ngược lại, Calcifer chẳng có vẻ gì nóng cả. Cậu ta tím tái vì sợ. Sophie có thể cảm thấy khối thịt đen của tim Howl đang đập rất yết ớt giữa lòng bàn tay. Nó chắc chắn phải là trái tim Howl. Anh đã tặng nó cho Calcifer để tạo thành hợp đồng, để giữ Calcifer còn sống. Anh hẳn đã rất tội nghiệp Calcifer, tuy thế, thật vẫn là một quyết định ngu ngốc!

Fanny và dì Fairfax hộc tốc từ cầu thang chạy xuống, mang theo hai cây chổi. Sự xuất hiện của họ dường như làm Angorian tin rằng ả đã thua. Cô ta chạy thẳng ra rửa, mang theo cây gậy của Sophie vẫn bay vùn vụt trên đầu, quất mạnh liên tục vào ả.

“Bắt nó lại!” Sophie hét. “Đừng để cô ta chạy mất! Chặn cửa!”

Mọi người vâng lời chạy loạn lên. Dì Fairfax đứng trước phòng chứa đồ, cây chổi nâng ngang người. Fanny canh cầu thang. Lettie bật dậy và canh cửa ra sân sau, Martha đứng cạnh cửa phòng tắm. Michael chạy đến cánh cửa lâu đài. Nhưng Percival bật ra khỏi giường và cũng chạy đến cánh cửa ấy. Mặt anh trắng bệch và mắt nhắm chặt, nhưng chạy còn nhanh hơn Michael. Anh đến đó trước, mở toang cửa ra.

Với Calcifer chỉ còn thoi thóp, tòa lâu đài đã ngừng chuyển động. Angorian nhìn thấy các bụi cỏ đứng yên trong làn sương mù bên ngoài và chạy thẳng đến cửa với tốc độ siêu nhiên. Trước khi ả đến nơi, bù nhìn đã nhảy tới, dáng lờ mờ của hoàng tử Justin nằm trên lưng, vẫn còn choàng cái áo của Sophie. Nó giang hai cánh tay qua cửa, chặn đường. Cô Angorian lùi lại.

Cây gậy đánh cô ta giờ đây đang bốc cháy. Một đầu sắt hừng sáng. Sophie nhận ra nó không có thể tiếp tục lâu nữa. May mắn thay, Angorian ghét nó đến nỗi cô nắm lấy Mchael và kéo cậu ngáng đường. Cây gậy đã được bảo không được làm hại Michael. Nó lơ lửng, vẫn còn cháy. Martha xông tới, và kéo Michael ra. Gậy phải tránh cả cô bé. Sophie lại làm hỏng như thường lệ.

Không còn thời gian để lãng phí nữa.

“Calcifer,” Sophie thì thào, “Tôi phải hủy bỏ họp đồng. Nó có giết cậu không?”

“Nếu ai khác làm thì chắc chắn đấy,” Calcifer khào khào đáp. “Đó là tại sao tôi yêu cầu cô làm. Tôi có thể thấy cô có khả năng tặng cuộc sống bằng lời nói. Nhìn xem những gì cô làm cho con bù nhìn và cái đầu lâu kìa.”

“Vậy thì hãy sống ngàn năm nữa!” Sophie nói, và ước thật mạnh mẽ khi cô nói thế, cho trường hợp nói không vẫn chưa đủ. Việc này đã làm cô lo lắng rất nhiều. Cô nắm lấy Calcifer và cẩn thật ngắt cậu ra khỏi trái tim, như là cắt nụ chết ra khỏi cành. Calcifer xoay lỏng và bay trên vai cô như một giọt nước màu xanh.

“Tôi thấy nhẹ nhàng quá!” cậu ta cất tiếng. Rồi hỏa yêu nhận thức được chuyện gì xảy ra. “Tự do rồi!” cậu hét lên. Cậu ta xoay người đến ống khói và bay thẳng lên, ra khỏi tầm nhìn. “Tôi tự do rồi!” Sophie nghe tiếng cậu ta hét vang trên đầu khi cậu bay ra khỏi ống khói của cửa tiệm nón.

Sophie quay lại phía Howl với trái tim gần ngừng đập, cảm thấy không chắc chắn dù trong cơn vội vã. Cô phải làm đúng việc này, và cô không chắc phải làm thế nào. “Kệ, làm đại,” cô nói. Quỳ xuống bên cạnh Howl, cô cẩn trọng đặt trái tim đen lên ngực anh bên phía trái chỗ mà cô cảm thấy tim mình khi nó quậy cô, và đẩy. “Vào đi,” cô bảo. “Vào bên trong và hoạt động!” Và cô đẩy, và đẩy. Trái tim bắt đầu chìm vào trong, và đập mạnh hơn trên đường vào. Sophie cố tình bỏ qua ngọn lửa và những lộn xộn cạnh cánh cửa và chỉ chăm chú giữ sức ép đều đặn. Mái tóc cô tung bay rối bù. Nó chảy dài xuống mắt thành một màu đỏ mượt mà, nhưng cô chẳng để ý gì. Cô đẩy.

Trái tim lọt vào. Vừa khi nó biến mất, Howl cử động. Anh rên thật lớn và quay mình dậy, “Chết chưa!” anh nói. “Cơn say làm tôi nhức đầu quá!”

“Không phải, anh đã đập đầu trên sàn,” Sophie chữa.

Howl chống tay và đầu gối vội vàng bật dậy. “Tôi không thể ở đây,” anh thốt. “Tôi phải đi cứu cô Sophie ngốc đó.”

“Em ở đây!” Sophie nói, lắc vai anh. “Nhưng mà cô Angorian cũng vậy! Hãy đứng dậy và xử lý cô ta đi! Nhanh lên!”

Cây gậy giờ hoàn toàn bị bốc lửa. Tóc Martha cháy xém. Angorian nhận ra con bù nhìn có thể cháy. Cô ả khôn ngoan lẩn tránh để thanh gậy đến gần cửa. Như thường lệ, Sophie nghĩ, mình đã không nghĩ tới đó!

Howl chỉ cần nhìn một cái. Anh nhanh chóng đứng lên. Một tay đưa ra, và phán một câu mà những từ ngữ bị tan đi trong tiếng sấm sét. Vôi tường từ trần nhà rơi xuống. Mọi thứ rung chuyển. Nhưng cây gậy biến mất và Howl lùi lại, tay nắm một vật nhỏ đen thui. Nó có thể là một cục than, trừ việc nó có hình dạng y như vật mà Sophie vừa đẩy vào lồng ngực Howl. Angorian rên lên như một ngọn lửa bị ướt, hai tay giơ ra van xin.

“Không thể được,” Howl nói. “Ngươi đã sống đủ rồi. Ngươi còn bày mưu đoạt lấy một trái tim mới. Ngươi định sẽ lấy tim ta và để cho Calcifer chết đi có phải không?” Anh đặt món vật đen thui vào hai lòng bàn tay và chà mạnh. Trái tim mụ phù thủy già tan vỡ thành cát đen, tro bụi, rồi tan mất. Angorian cũng mờ dần đi. Và khi Howl mở tay ra trống rỗng, cũng không còn cô Angorian bên cánh cửa.

Một chuyện khác cũng xảy ra. Giây phút cô Angorian biến mất, con bù nhìn cũng không còn ở đó. Nếu Sophie chịu nhìn, cô sẽ thấy hai người đàn ông cao lớn đứng trước cửa, mỉm cười với nhau. Người mang khuôn mặt xương xương có tóc màu cam. Người mặc bộ quân phục xanh lá có khuôn mặt tròn hơn và một áo choàng xám trên vai. Nhưng khi ấy Howl quay lại nhìn Sophie. “Màu xám không hợp với em,” anh nói. “Anh đã nghĩ thế khi gặp em lần đầu tiên.”

“Calcifer đi rồi,” Sophie đáp. “Em đã phải hủy hợp đồng của anh.”

Howl hơi buồn, nhưng anh thốt, “Tụi anh đã hi vọng em làm thế. Không ai muốn có kết cuộc như bà phù thủy và cô Angorian. Em nói tóc em màu đỏ phải không?”

“Đỏ vàng,” Sophie đáp. Cô không thấy có sự thay đổi nào ở nơi Howl, khi cuối cùng anh cũng có lại trái tim, ngoại trừ có lẽ mắt anh có màu sậm hơn – giống mắt con người, và ít giống thủy tinh hơn. “Không như người ta,” cô nói, “đây là màu tóc tự nhiên đấy.”

“Anh không hiểu sao có người lại trọng tự nhiên đến thế,” Howl trả lời, và Sophie biết ngay anh không có thay đổi gì hết.

Nếu Sophie chịu chú ý, cô sẽ thấy Hoàng tử Justin và Pháp sư Suliman đang bắt tay, và vỗ vai nhau. “Tôi sẽ về thăm hoàng huynh của tôi đây,” hoàng tử Justin nói. Anh bước tới trước Fanny, người có vẻ quí phái nhất trong bọn, và cúi chào thật thấp. “Có phải tôi đang nói chuyện với quí phu nhân của nhà này không?”

“Er – không phải đâu,” Fanny nói, cố giấu cây chổi ra sau lưng. “Bà chủ nhà này là Sophie.”

“Hay sắp là nhanh thôi,” dì Fairfax chêm vào, nụ cười rạng rỡ.

Nếu Sophie chịu tham gia, cô sẽ thấy Pháp sư Suliman đang bước đến bên Lettie. Bây giờ anh đã trở lại nguyên hình, rõ ràng là Pháp sư Suliman ít nhất cũng cứng đầu y như Lettie. Lettie ngượng ngùng khi Suliman tới gần. “Dường như là ký ức về em là của hoàng tử chứ không phải của anh chút nào,” anh nói.

“Cũng không sao,” Lettie can đảm nói. “Đó chỉ là hiểu lầm thôi.”

“Nhưng không phải thế!” Pháp sư Suliman phản đối. “Ít nhất em cũng để anh nhận em làm học trò chứ?” Lettie đỏ bừng mặt khi nghe câu nói đó và dường như không biết phải nói gì.

Với Sophie đó là vấn đề của Lettie. Cô có vấn đề riêng của mình. Howl nói, “Anh nghĩ tụi mình phải sống hạnh phúc mãi mãi về sau,” và cô nghĩ là anh đã thực lòng. Sophie biết sống hạnh phúc mãi mãi với Howl sẽ có nhiều chuyện rắc rối hơn là các câu chuyện kể, nhưng cô nhất quyết sẽ cố gắng. “Nó sẽ rất dựng tóc gáy đó,” Howl thêm vào.

“Anh sẽ lợi dụng em,” Sophie thốt.

“Còn em sẽ cắt hết quần áo của anh để cho anh một bài học,” Howl tiếp.

Nếu Sophie hay Howl chú ý đến xung quanh, họ sẽ thấy hoàng tử Justin, Pháp sư Suliman, và dì Fairfax tất cả đang cố nói chuyện với Howl, còn Fanny, Martha, và Lettie đang kéo tay áo Sophie, trong khi Michael đang kéo áo khoác của Howl.

“Đó là phép sử dụng ngữ thuật cao nhất mà tôi từng gặp,” dì Fairfax nói. “Tôi sẽ không biết phải làm gì với con hỏa yêu đó. Như tôi thường nói…”

“Sophie,” Lettie kêu, “Em cần lời khuyên.”

“Pháp sư Howl,” Pháp sư Suliman nói, “thành thực xin lỗi vì đã nhiều lắn cắn anh. Trong trường hợp bình thường thì tôi chưa từng mơ đến việc dùng răng với một người đồng hương.”

“Sophie, mẹ nghĩ vị công tử này là một hoàng tử,” Fanny thốt.

“Thưa ngài,” hoàng tử Justin trịnh trọng, “tôi hết sức cám ơn ngài đã giải cứu tôi khỏi mụ phù thủy.”

“Sophie,” Martha gọi, “lời nguyền của chị đã giải rồi! Chị có biết không?”

Nhưng Sophie và Howl đang nắm tay nhau, và mỉm cười, mỉm cười, không thể nào ngừng. “Đừng có làm phiền,” Howl nói. “Tôi chỉ cứu anh vì giải thưởng thôi.”

“Điêu quá!” Sophie cười.

“Em nói,” Michael hét, “là Calcifer trở về rồi!”

Câu nói đó lập tức nhận được sự chú ý của Howl, và cả Sophie nữa. Họ nhìn vào bếp lò, nơi có khuôn mặt xanh dương quen thuộc đang tí tách giữa những thanh củi.

“Cậu không cần phải làm thế,” Howl thốt.

“Tớ không ngại đâu, miễn là tớ có thể tự do đến và đi,” Calcifer đáp. “Vả lại, trời còn đang mưa ở Market Chipping.”



---------------/\-[Hết]-/\---------------


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn erilx bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

[Dolls Family]

Sponsored content

Bài gửiTiêu đề: Re: Howl's Moving Castle


Thấy bài viết hay không? Hãy cảm ơn Sponsored content bằng cách bấm vào "" nhé ^^

Về Đầu Trang Go down

Gửi bài mớiTrả lời chủ đề này
Tiêuđề

Howl's Moving Castle

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang

.::Host up ảnh miểnphí: Clickhere! - Hướng dẩn sử dụng Diễn đàn:Clickhere!::.
Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: .:Giải Trí:. :: Fanfic-fiction-
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Create your own blog